Dấu hiệu, triệu chứng trẻ bị sốt siêu vi – Cách điều trị bệnh cho bé mau hồi phục

Trẻ bị sốt siêu vi hay còn gọi là sốt virus thường xuất hiện nhiều trong mùa hè nắng nóng, đây là bệnh vô cùng nguy hiểm khiến các mẹ lo lắng. Sốt siêu vi có biểu hiện ban đầu khá giống với bệnh sốt xuất huyết nên các mẹ dễ bị nhầm lẫn và chăm sóc trẻ không phù hợp. Hiện nay, sốt siêu vi chưa có thuốc điều trị nên khi trẻ bị sốt siêu vi các mẹ cần có biện pháp chăm sóc và điều trị đúng cách giúp bé mau phục hồi sức khỏe, tránh được những biến chứng nguy hiểm không mong muốn có thể xảy. Để giúp các mẹ hiểu hơn về dấu hiệu nhận biết trẻ bị sốt siêu vi, nguyên nhân gây bệnh, cách điều trị sốt siêu vi ở trẻ, phòng ngừa sốt siêu vi như thế nào,…..mời các mẹ cùng theo dõi thông tin trong bài viết mà chúng tôi chia sẻ dưới đây nhé.

Hãy cùng gonhub.com tìm hiểu triệu chứng sốt siêu vi ở trẻ emcách điều trị sốt siêu vi nhanh khỏi nhất dưới đây nhé.

1. Trẻ bị sốt virus

Thời gian gần đây, thời tiết nắng nóng kéo dài khiến số bệnh nhân bị mắc các bệnh đường hô hấp, nhất là bệnh sốt virus gia tăng và lây lan mạnh. Theo các bác sĩ, nhiều bệnh nhân sai lầm khi cho rằng sốt virus là phải sốt cao dai dẳng hàng tuần, thực tế có người chỉ biểu hiện hâm hấp sốt.

Mặc dù sốt virus lành tính nhưng nếu không phát hiện chữa kịp thời rất dễ sinh ra biến chứng như: động kinh, viêm màng não…

Dấu hiệu, triệu chứng trẻ bị sốt siêu vi - Cách điều trị bệnh cho bé mau hồi phục

  • 1.1. Không nên tự điều trị khi trẻ sốt virus

Tại phòng khám nhi ở các BV như: Xanh Pôn, Bạch Mai, Nhi trung ương, hơn một tuần trở lại đây bệnh nhi nhập viện do sốt virus, hô hấp tăng cao. Bác sĩ Hoàng Minh Thu, Trưởng khoa Nhi, bệnh viện Xanh Pôn cho biết những ngày gần đây khoa tiếp nhận rất nhiều bệnh nhi sốt cao đến khám, trong đó phần lớn là trẻ bị sốt virus.

Tuy nhiên, theo Bác sĩ Thu, điều đáng lo ngại là hầu hết bệnh nhân thường tự điều trị ở nhà bằng kháng sinh khi sốt nên nhiều trường hợp nhập viện ngoài sốt còn bị tiêu chảy do tác dụng phụ của kháng sinh. Trường hợp của cháu Minh (Hà Nội) là ví dụ.

Một tuần trước, cháu ho và sốt nhẹ. Chị Lan mẹ cháu liền mua thuốc kháng sinh và thuốc hạ sốt cho cháu uống ở nhà. Uống đến ngày thứ 5, cháu không những không khỏi mà sốt còn nặng hơn, mắt nhìn mờ đi kèm theo đi ngoài liên tục. Anh chị vội vàng đưa con vào viện và được bác sĩ kết luận cháu Minh bị sốt virus.

Điều đáng ngại là cháu uống quá nhiều kháng sinh nên hệ thống tiêu hóa của cháu bị rối loạn. Hiện cháu vừa phải điều trị sốt lại kèm thêm chữa tiêu chảy.

Theo các BS, biểu hiện của trẻ sốt virus chủ yếu là nhiệt độ cơ thể tăng cao, trên 38oC, sốt kéo dài, chân tay lạnh, ho nhiều, một số trường hợp xuất hiện kèm các nốt phát ban, có trẻ đến viện khi đã có biểu hiện của viêm phế quản, viêm đường hô hấp trên. Một số trẻ nhỏ bị sốt virus còn lên cơn co giật liên hồi kèm tình trạng khó thở.

Trường hợp gặp các triệu chứng trên nếu không phát hiện sớm để đưa ngay đến cơ sở y tế cấp cứu kịp thời rất dễ sinh ra biến chứng nguy hiểm như động kinh, viêm màng não… Tuy nhiên, muốn có kết luận chắc chắn nguyên nhân có phải do sốt virus hay không, bệnh nhân cần được làm xét nghiệm máu.

  • 1.2. Tăng cường sức đề kháng cho trẻ

Theo Bác sĩ Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi BV Bạch Mai, số bệnh nhân bị sốt virus thường tăng khi thời tiết thay đổi thất thường, nhất là độ ẩm cao như mấy ngày gần đây. “Nhiều người sai lầm khi cho rằng sốt virus là phải sốt cao dai dẳng hàng tuần, thực tế có người chỉ biểu hiện hâm hấp sốt. Ngay cả những trường hợp vừa đỡ mấy ngày đã sốt lại cũng là bình thường, nếu sức đề kháng kém, cơ thể có thể tái nhiễm nhiều lần”, Bác sĩ Dũng cảnh báo.

Ông cũng cho hay, thông thường người mắc sốt virus sẽ khỏi sau 5-7 ngày điều trị (chủ yếu uống thuốc hạ sốt nếu người bệnh sốt trên 38oC, cho người bệnh ăn những món dễ tiêu hóa, giàu chất dinh dưỡng). Trường hợp không khỏi sau khoảng thời gian này, chắc chắn cơ thể đã bị bội nhiễm, cần làm các xét nghiệm sâu để chẩn đoán, điều trị kịp thời.

Theo các bác sĩ chuyên khoa, vẫn còn phổ biến quan niệm sai lầm là truyền dịch sẽ hạ sốt nhanh. Ngày nào tại các bệnh viện, các bác sĩ cũng nhận được yêu cầu từ phía người nhà bệnh nhân được truyền dịch để… tăng lực. Bác sĩ Dũng, khẳng định, truyền dịch vừa tốn kém, vừa tiềm ẩn nguy cơ nhiễm khuẩn, vừa không thể nhanh chóng hết sốt. Do đó, chỉ trường hợp thật sự cần thiết, các bác sĩ mới chỉ định truyền dịch để bù nước.

Cũng theo Bác sĩ Dũng, thời điểm dịch như hiện nay cần tăng cường sức đề kháng, bù nước bằng dung dịch oresol, bổ sung vitamin từ hoa quả… cho trẻ em, người già. Khi sốt đang vào mùa cao điểm và sắp đến mùa thi của trẻ em, phụ huynh không nên cho trẻ đến chỗ đông người, hạn chế dùng điều hòa nhiệt độ, giữ vệ sinh ăn uống. Khi trẻ bị sốt cần cách ly để tránh lây lan.

2. Triệu chứng sốt siêu vi ở trẻ em

Các biểu hiện chung thường thấy ở bệnh nhi nhiễm siêu vi là sốt cao 39-40oC kèm theo mệt mỏi, đau cơ, đau họng, chán ăn, quấy khóc. Ở trẻ nhỏ (dưới 5 tuổi), khi sốt cao không được hạ sốt kịp thời, trẻ dễ bị co giật. Đáng lưu ý là khi trẻ bị co giật nếu không được xử lý kịp thời có thể dẫn đến suy hô hấp, thiếu ôxy não, làm suy giảm trí tuệ hay nặng hơn là để lại di chứng nặng nề về não.

Trường hợp trẻ sốt cao nên lau mát cho trẻ bằng cách dùng nước có nhiệt độ thấp hơn thân nhiệt trẻ 2oC để lau trán, mặt, cổ, nách, bẹn, lưng, bụng trẻ. Không nên dùng nước đá hoặc nước quá lạnh, quá nóng để lau trẻ. Khi trẻ nóng sốt nên cho trẻ mặc quần áo thoáng mát. Có thể cho trẻ uống thuốc hạ sốt trước khi đưa trẻ đến bệnh viện. Nếu trẻ bị co giật thì phải cởi bỏ quần áo, lau mát và sử dụng thuốc hạ sốt qua đường hậu môn (nhét viên hạ sốt vào hậu môn).

Dấu hiệu, triệu chứng trẻ bị sốt siêu vi - Cách điều trị bệnh cho bé mau hồi phục

Siêu vi có thể gây bệnh cảm cúm, sốt xuất huyết, viêm phổi, viêm não, tiêu chảy, viêm gan… Và mỗi loại siêu vi có áp lực với những cơ quan khác nhau trong cơ thể người nên có thể gây ra những bệnh khác nhau. Sốt là biểu hiện của một bệnh nào đó, có thể nặng nhẹ tùy theo nhiều yếu tố như loại vi rút, độc lực vi rút… Vì vậy, khi trẻ sốt cao đột ngột thì phụ huynh cần hạ sốt ngay cho trẻ, sốt siêu vi có một số triệu chứng giống viêm não, viêm não Nhật Bản, do vậy thấy trẻ có các triệu chứng như trên các bậc cha mẹ không được tự ý điều trị tại nhà mà phải đưa trẻ đến bác sĩ để được chẩn đoán, điều trị đúng bệnh và kịp thời. Để tránh những di chứng đáng tiếc của bệnh viêm não.

Về nguyên tắc, bệnh nhân nhiễm siêu vi không có thuốc đặc trị mà chỉ điều trị hỗ trợ bằng cách nâng tổng thể trạng cho bệnh nhân, chống các cơn co giật, sốc (trong bệnh sốt xuất huyết)… hoặc điều trị các biến chứng nếu có.

Mẹ Xàm TV – Kênh Youtube chuyên biệt “TÁM” của các mẹ!
– Nơi gặp gỡ, trao đổi, giao lưu của các mẹ đến từ khăp mọi nơi …

Trẻ sốt siêu vi thông thường có thể sẽ khỏi bệnh trong vòng 7 ngày. Tuy nhiên, không nên để trẻ sốt dẫn đến co giật nhiều lần sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của não bộ. Trường hợp trẻ sốt do bệnh sốt xuất huyết, sau 3 ngày bác sĩ mới chỉ định thử máu, vì thời điểm này mới cho kết quả đúng. Vì vậy, trẻ sốt trong 1-2 ngày đầu, phụ huynh không nên nóng lòng yêu cầu thử máu để xác định bệnh sốt xuất huyết. Tốt nhất là khi trẻ có dấu hiệu bệnh thì nên đưa đến bác sĩ và tuân thủ đúng theo hướng dẫn của bác sĩ để có kết quả điều trị tốt nhất.

3. Đề phòng sốt siêu vi cho trẻ

Cho trẻ ăn uống đầy đủ dinh dưỡng (cơm, cháo, thịt, trứng, đậu, rau củ quả, trái cây…), sinh hoạt, vui chơi, nghỉ ngơi hợp lý.

Cho trẻ ăn chín, uống sôi; tạo môi trường ở thông thoáng, sạch sẽ, giữ vệ sinh cá nhân cho trẻ. Đối với trẻ mới biết bò, biết đi, nên rửa tay, chân thường xuyên cho trẻ, không để trẻ ngậm tay chân, đồ chơi đã rơi xuống nền nhà.

Hạn chế đưa trẻ đến nơi đông người, ra ngoài lúc mưa, nắng nóng, không nên để trẻ ở lâu trong phòng có máy lạnh.

4. Sốt siêu vi ở trẻ là gì? Phòng ngừa và chữa trị thế nào?

Hỏi: Con tôi năm nay 3 tuổi, thường hay bị nóng sốt thất thường, cứ mỗi lần bị bệnh là sốt lên đến 39-40 độ , mỗi khi con tôi sốt cao như thế cho uống thuốc hạ sốt thì cơn sốt có giảm đi dần dần nhưng chỉ khoảng 3-4 giờ sau khi uống thuốc là sốt lại, kéo dài khoảng 3-4 ngày thì hết. Tôi có đưa cháu đi bác sĩ, chẩn đoán “sốt siêu vi”. Vậy “sốt siêu vi” là gì? Cách phòng ngừa và phương pháp chữa trị như thế nào?

Dấu hiệu, triệu chứng trẻ bị sốt siêu vi - Cách điều trị bệnh cho bé mau hồi phục

Trả lời của bác sĩ chuyên khoa nhi: Chào bạn, sốt siêu vi là chẩn đoán thường thấy khi vài ngày đầu trẻ bị sốt mà chưa xác định chính xác trẻ mắc bệnh gì. Sốt siêu vi cũng có thể là sốt xuất huyết, cũng có thể là viêm hô hấp hay 1 số bệnh do siêu vi trùng khác. Do đó, thường bác sĩ hẹn bệnh nhân khám lại hay làm một số xét nghiệm để biết thêm chính xác bé bệnh gì và bệnh này thường sẽ tự khỏi trong vòng 5-7 ngày. Bạn có thể tham khảo cách phòng ngừa trong phần trả lời của câu hỏi bên trên.

Trên đây là triệu chứng, cách điều trị và phòng ngừa bệnh sốt siêu vi ở trẻ em giúp các bậc phụ huynh có thêm nhiều thông tin chi tiết về căn bệnh này và có cách chăm sóc trẻ một cách hiệu quả, tránh được những biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra với tính mạng của trẻ. Chúc các bé luôn khỏe mạnh, hay ăn chóng lớn mỗi ngày và hãy luôn đồng hành cùng gonhub.com để cập nhật thêm nhiều thông tin hữu ích nhé.

Rung lắc trẻ sơ sinh nguy hiểm như thế nào? Những tác hại bố mẹ cần biết

Rung lắc trẻ sơ sinh nguy hiểm như thế nào và để lại nhiều hậu quả khôn lường ra sao chính là nội dung mà chúng tôi muốn trình bày thông qua bài viết này để quý vị phụ huynh hiểu được mức độ nghiêm trọng khi rung lắc con trẻ chỉ vì thói quan hay vì sự thiếu hiểu biết trong cách chăm con nhỏ. Với nhiều bậc làm cha làm mẹ, họ nghĩ rất đơn giản, tung lắc con lên cao nhằm mục đích vui đùa hoặc dỗ trẻ nín khóc nhưng lại không thể ngờ rằng, hành động tưởng chừng đơn giản này của mình lại để lại nhiều hậu quả khôn lường mà không ai khác, chính con sẽ là người phải gánh lấy. Tổn thương não bộ về sau có thể tạm thời hoặc vĩnh viễn chính là hậu quả đến từ sự vô cảm của người lớn khi rung lắc con nhỏ. Để giúp quý vị sớm tỉnh ngộ và nhìn nhận lại việc làm của mình với con trẻ như vậy là đúng hay sai, là cần phải khắc phục sớm như thế nào, xin mời đọc kĩ nội dung bên dưới.

Hãy cùng gonhub.com tìm hiểu xem rung lắc trẻ sơ sinh nguy hiểm thế nào và những tác hại của việc rung lắc trẻ nhỏ để lại là gì nhé!

1.1 Rung lắc trẻ có thể dẫn đến tổn thương não

Theo bác sĩ Nguyễn Văn Phúc, Bệnh viện Xanh Pôn, Hà Nội, đa số hội chứng rung lắc gặp ở trẻ dưới 2 tuổi, trong đó, tỉ lệ mắc hội chứng lắc xảy ra cao nhất ở trẻ nhũ nhi (0-6 tháng tuổi). Ở trẻ sơ sinh, kích thước đầu và trọng lượng chiếm khoảng 1-4 so với toàn cơ thể. Trong đầu, có những khoảng trống giữa não và xương sọ cho phép não tiếp tục lớn và phát triển.

Não của trẻ khá mềm với màng não mỏng. Khối cơ của cổ lại quá yếu không đủ sức nâng đỡ đầu, nên khi bị rung lắc sẽ có khuynh hướng gập tới gập lui hay xoay qua xoay lại một cách không kiểm soát được.

Khi bị rung lắc, xương sọ mềm và dẻo của trẻ không chịu được những lực này, sẽ chuyển lực tới não, khi não không có sự di chuyển đồng bộ và gây ra sự va đập trở lại tới xương sọ, làm dập não, tăng áp lực, phù và chảy máu trong não. Các tĩnh mạch lớn dọc theo phía ngoài não cũng mỏng manh và dễ rách, gây chảy máu, máu tụ dưới màng cứng, ngoài màng cứng, dưới màng nhện, tăng áp lực nội sọ.

Rung lắc trẻ sơ sinh nguy hiểm như thế nào? Những tác hại bố mẹ cần biết

1.2 Những tổn thương khi bị rung lắc ở trẻ có thể là vĩnh viễn

Hậu quả có thể còn nặng nề hơn nếu đầu trẻ va cham mạnh vào một bề mặt nào đó như tường, sàn nhà hay giường. Khi đó, trẻ bị dừng lại đột ngột bởi một va chạm mạnh, hậu quả là não sẽ bị xoắn vặn trong hộp sọ dẫn đến tình trạng các mạch máu và thần kinh của não bị vỡ, các mô não bị xé ra gây xuất huyết não, phù não, tăng áp lực nội sọ.

Các nghiên cứu cho thấy, những tổn thương có thể xảy ra chỉ với 5 giây rung lắc. Rung lắc mạnh có thể gây ra những tổn thương não vĩnh viễn. Trường hợp rất nặng có thể dẫn đến tử vong.

1.3 Nguyên nhân từ sự vô tình

Có thể bạn sẽ giật mình khi biết nguyên nhân mà đôi khi chính bạn cũng đã đang vô tình sử dụng với trẻ trong khi chăm sóc và chơi đùa. Không kìm nén được cơn tức giận khi trẻ khóc hay quấy, nhiều bậc cha mẹ mất tự chủ hoặc có thói quen sốc trẻ lên cao hoặc lắc dữ dội để thoả cơn giận.

(VTC14) – Báo Jiangsu News của Trung Quốc đưa tin, một em bé 3 tháng tuổi ở địa phương đã phải nhập viện để mổ não sau khi …

Các ông bố có khuynh hướng hay biểu hiện sự yêu thương con bằng cách lắc trẻ hoặc tung lên rồi bắt lấy hay trò chơi “nhong nhong ngựa ông đã về” để trẻ lên chân rồi lắc. Việc ru cho trẻ ngủ bằng cách lắc lắc, đu đưa trên tay cũng có thể nguy hiểm. Hoặc trẻ ở tư thế đứng khi đi đường xe xóc, khiến trẻ gập tới gập lui.

1.4 Đừng xem thường cái lắc

Để phòng ngừa những nguy hiểm do hội chứng này, Bác sĩ Lê Thanh Hải, Phó Giám đốc BV Nhi Trung ương khuyến cáo, tuyệt đối không được đung đưa mạnh đối với trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ từ 0-6 tháng. Bởi những tổn thương không chỉ xảy ra trong thời điểm hiện tại mà có thể ảnh hưởng về lâu dài.

Các bậc cha mẹ cũng không nên có những động tác làm thay đổi từ thế trẻ nhanh đột ngột như: Trẻ đang năm được bế thốc dậy, nhấc bổng trẻ lên cao, xốc nách nhấc trẻ lên cao rồi hạ xuống. Đặc biệt, khi trẻ quấy khóc hoặc làm một việc gì đó không vừa lòng, người lớn không nên tát, đánh vào đầu trẻ.

Khi di chuyển trẻ, hãy giữ cổ ở tư thế tương đối cố định. Không ôm giữ trẻ khi cãi cọ. Khi trẻ khóc kéo dài không dỗ được cần phải kiểm tra kỹ nguyên nhân, không nên bỏ qua chi tiết này. Những bậc ông bà của trẻ cũng không nên vì qúa yêu trẻ mà rung lắc hay tạo áp lực cho cha mẹ của trẻ khi trẻ khóc nhiều.

1.5 Khó phát hiện

Vì triệu chứng của bệnh thường không rõ ràng và dễ nhầm lẫn với một số tình trạng khác như nhiễm siêu vi, rối loạn tiêu hóa…nên khó phát hiện, nhất là những trường hợp nhẹ, thường bị bỏ qua.

Trẻ thường có các biểu hiện sau: Quấy khóc nhiều, bỏ ăn hay bỏ bú, ói, ngủ lịm, gương mặt không cảm xúc, không chịu cười đùa, trương lực cơ kém (cơ nhẽo), da xanh tái, nhìn thấy rõ nhất vùng trán. Ở thể nhẹ này, ít cha mẹ nào nghĩ rằng con mình bệnh mà đưa đến bác sĩ khám. Và điều nguy hiểm cũng chính ở điểm này, vì không biết nên càng rung lắc khiến trẻ tổn thương nặng hơn.

Nặng hơn là khó thở, ngừng thở hoặc co giật. Những dấu hiệu cho thấy chấn thương cổ, sưng nề, cứng cổ, nghẹo về một bên, khó quay. Do đó, khi thấy trẻ có dấu hiệu này và có kèm theo tình trạng hay lắc trẻ, bạn hãy nghĩ đến ngay đến hội chứng này, hãy đưa đến bác sĩ thăm khám và tư vấn thích hợp.

  • 2. Chú ý 5 sai lầm nghiêm trọng khi chăm sóc bé sơ sinh các mẹ cần khắc phục càng sớm càng tốt

2.1 Thoa phấn rôm sau tắm

Rất nhiều bà mẹ có thói quen dùng phấn rôm cho bé sau khi tắm. Như vậy sẽ không tốt cho bé, nhất là ở cổ, nách, bẹn… nếu những vùng da này chưa được lau khô hẳn, vì phấn dễ bị bết, dính lại làm bịt lỗ chân lông, khiến bé dễ bị hăm hơn. Hơn nữa, khi thoa phấn, bé dễ bị hít phải bụi phấn, sẽ ảnh hưởng đến đường hô hấp, dễ bị viêm nhiễm.

2.2 Bế trẻ ra chỗ đông người

Do hệ miễn dịch chưa phát triển hoàn thiện nên trẻ sơ sinh rất dễ bị nhiều loại vi khuẩn vi trùng tấn công, nên mẹ hãy kỹ lưỡng khi bế bé ra ngoài. Một số cha mẹ, do tâm lý chủ quan thường bế bé theo khi ra ngoài hoặc tụ tập chỗ đông người. Việc này nếu diễn ra thường xuyên sẽ không tốt cho sức khỏe của bé, do sức đề kháng của bé sơ sinh còn non nớt. Cho bé ra chỗ đông người quá sớm, quá nhiều, dễ khiến bé bị nhiễm khuẩn. Điều này rất nguy hiểm vì loại vi khuẩn “xoàng” nhất cũng có thể tấn công trẻ sơ sinh.

2.3 Cho bé ngủ cùng với cha mẹ

Ngủ cùng bé sẽ tạo cơ hội để mẹ có thể liện kết với con và cho con bú được thuận tiện hơn vào ban đêm. Theo Tổ chức Y tế thế giới, những trẻ em được ngủ cùng mẹ trong giai đoạn sơ sinh, được bú sữa mẹ no đủ vào cả đêm và ngày sẽ giảm được phần trăm nguy mắc bệnh trẻ nhỏ. Tuy nhiên, ngủ chung với bố mẹ cũng có thể tăng nguy cơ bị SIDS (hội chứng tử vong đột ngột sơ sinh), bé có thể bị ngộp do nằm kẹp giữa ba mẹ hoặc có thể tử vong vì bị ba mẹ đè hoặc bị ép vào tường…

Nghiên cứu về SIDS (hội chứng tử vong đột ngột ở trẻ sơ sinh) cho thấy môi trường ngủ an toàn nhất là nôi riêng của bé. Nôi nên ở cạnh giường ba mẹ trong 6-12 tháng đầu đời. Trước khi quyết định lựa chọn ngủ chung hay riêng, ba mẹ nên kiểm tra thông tin mới nhất về SIDS và xem xét các thói quen khi ngủ của ba mẹ có thể gây ảnh hưởng đến bé khi ngủ hay không.

2.4 Để cho bé ngủ ngày thức đêm

Bé không ngủ suốt đêm như những trẻ khác, ban ngày bé thường xuyên ngủ. Bạn cần giúp bé phân biệt được sự khác nhau giữa ngày và đêm. Ngày bé có thể chơi nhưng đêm bé cần phải ngủ. Bạn hãy giữ cho phòng của bé tràn đầy ánh sáng vào ban ngày và trong cả giấc ngủ ngắn ban ngày. Còn buổi tối thì bạn hãy tắt hết đèn để bé biết bé cần phải ngủ.

2.5 Lay, lắc người hoặc tung bé lên khi chơi với bé

Nếu muốn đánh thức bé dậy, mẹ đừng lay người bé nhé. Hoặc khi chơi với bé mẹ cũng tránh lắc người bé mạnh quá hay tung bé lên và đón bắt. Việc lay hoặc lắc bé sơ sinh quá mạnh với bất kỳ mục đích nào cũng đều không tốt và có thể gây nguy hiểm cho bé, thậm chí dẫn đến tử vong. Bé sơ sinh bị rung lắc nhiều dễ xuất huyết não do mắc hội chứng Shaken baby syndrome (còn gọi là hội chứng trẻ bị rung lắc).

Hội chứng trẻ bị rung lắc thường xảy ra với các bé sơ sinh dưới 6 tháng tuổi. Lý do là vì ở giai đoạn này, kích thước và trọng lượng đầu của bé chiếm khoảng 1/4 so với cơ thể. Trong đầu, có những khoảng trống giữa não và xương sọ cho phép não tiếp tục lớn và phát triển. Não của trẻ khá mềm với màng não mỏng. Khối cơ lại quá yếu không đủ sức nâng đỡ đầu, nên khi bị rung lắc sẽ có khuynh hướng gập tới gập lui hay xoay qua xoay lại một cách không kiểm soát được.

Khi bị rung lắc, xương sọ mềm và dẻo của bé không chịu được những lực này sẽ chuyển lực tới não, khi não không có sự di chuyển đồng bộ sẽ gây ra sự va đập trở lại tới xương sọ, làm dập não, tăng áp lực, phù và chảy máu trong não. Các tĩnh mạch lớn dọc theo phía ngoài não cũng mỏng manh và dễ rách, gây chảy máu, máu tụ dưới màng cứng, ngoài màng cứng, dưới màng nhện, tăng áp lực nội sọ.

Vì thế, bố mẹ đừng chơi đùa với trẻ một cách “quá đà” khiến con bị rung lắc mạnh như vậy. Đặc biệt là không được tung bé lên, xốc nách hay những trò chơi khiến bé bị thay đổi tư thế đột ngột. Điều đó có thể gây những nguy hiểm khó lường cho bé.

  • 3. Những tác hại không ngờ của thói quen rung lắc trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có thể mẹ chưa biết

Có thể bạn chưa bao giờ nghe tới hoặc chưa từng chú ý đến hội chứng này. Hội chứng này được mô tả lần đầu tiên vào những năm 1970, nhưng được sự chú ý và nghiên cứu đặc biệt vào khoảng 10 năm gần đây. Mang tên là hội chứng trẻ bị lắc (Shaken Baby Syndrome – SBS) hay đôi khi được gọi là chấn thương đầu kiểu ngược đãi (Abusive Head Trauma).

3.1 Hội chứng này là gì và tổn thương như thế nào?

Hội chứng này là dạng nặng của chấn thương đầu và não gây ra bởi rung lắc mạnh trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ. Hội chứng này thường xảy ra ở trẻ dưới 2 tuổi tuy nhiên có thể tới 5 tuổi, và gặp nhiều nhất ở trẻ dưới 9 tháng. Tại Mỹ, ước tính khoảng 1200 đến 1400 trẻ bị chấn thương hoặc chết do lý do rung lắc mỗi năm, theo con số từ Trung tâm quốc gia kiểm soát hội chứng trẻ bị lắc. Tuy nhiên, con số này có thể cao hơn nhiều bởi nhiều trường hợp không phát hiện được.

Động tác bế và rung lắc của người lớn đối với trẻ ở các quốc gia có thể khác nhau và tùy theo tập quán sinh hoạt. Sự nguy hiểm nhất đề cập trong bài này là những rung lắc khi bế xốc trẻ trong tư thế đứng và không giữ cố định cổ để cho cổ di chuyển theo hướng trước sau. Tuy nhiên nguy hiểm vẫn xảy ra khi bế trẻ ở mọi tư thế mà rung lắc mạnh với cường độ cao hoặc dừng hay va chạm đột ngột. Các nghiên cứu cho thấy những tổn thương có thể xảy ra chỉ trong với 5 giây rung lắc. Rung lắc mạnh có thể gây ra những tổn thương não vĩnh viễn. Trường hợp rất nặng có thể dẫn tới chết.

Trẻ sơ sinh có kích thước đầu lớn và nặng khoảng 1 phần tư so với toàn cơ thể. Trong đầu, có những khoảng trống giữa não và xương sọ cho phép não tiếp tục lớn và phát triển. Não của trẻ thì mềm với màng não mỏng. Các cơ và dây chằng vùng cổ thì yếu và chưa phát triển cũng chưa thể chịu đựng được sức nặng của đầu, sự lỏng lẻo này được ví như đầu chiếc roi (vì thế hội chứng này có tên lúc đầu là whiplash shaken baby). Khi bị rung lắc, xương sọ mềm và dẻo của trẻ không chịu được những lực này, sẽ chuyển lực tới não, khi não không có sự di chuyển đồng bộ và gây ra sự va đập trở lại tới xương sọ, làm giập não, tăng áp lực, phù và chảy máu trong não. Các tĩnh mạch lớn dọc theo phía ngoài não cũng mỏng manh và dễ rách, gây chảy máu, máu tụ dưới màng cứng, ngoài màng cứng, dưới màng nhện, tăng áp lực nội sọ. Những tổn thương này có thể là vĩnh viễn. Tuy nhiên những tổn thương này không thể thấy được từ bên ngoài bằng mắt thường. Nhiều trường hợp tổn thương trong não nhẹ rất khó phát hiện. Ngoài ra, tổn thương khác rất thường gặp ở mắt, do chảy máu võng mạc, có thể gây nên giảm thị lực hoặc mù. Các chấn thương khác có thể gặp ở cổ hay cột sống, hay xương sườn.

Những tổn thương lâu dài bao gồm chậm phát triển trí tuệ, thị lực kém, rối loạn hành vi nói và nghe, động kinh, tổn thương kỹ năng định hướng, và nhận thức, và cũng có thể tử vong. Nhiều tổn thương lâu dài chỉ phát hiện được khi trẻ đã lớn, trên 6 tuổi. Những điều trị tổn thương này đòi hỏi chi phí tốn kém, với kỹ năng chuyên sâu, và nỗ lực lâu dài.

3.2 Nguyên nhân và triệu chứng

Các nguyên nhân lại rất thông thường và không bởi tai nạn. Hầu hết các trường hợp gây ra khi đứa trẻ khóc liên tục không ngừng và không dỗ được khiến cho cha mẹ hoặc người chăm sóc nỗ lực làm đứa trẻ ngừng khóc hoặc những người này trong tình trạng bực bội, mất kiên nhẫn và kiểm soát. Những nỗ lực này được thể hiện bằng cách rung lắc trẻ với cường độ cao hoặc có các hành vi mạnh hay có tính bạo lực hơn. Hiện tượng này rất phổ biến một cách không cố ý và không hề chủ tâm gây nguy hiểm cho trẻ.

Triệu chứng: Cần lưu ý rằng rất nhiều trẻ không có triệu chứng rõ rệt bên ngoài. Các dấu hiệu rõ rệt hơn bao gồm:

  • Trẻ bị kích thích mạnh, thay đổi hành vi thông thường, không tiếp xúc
  • Đờ đẫn, lơ mơ, hoặc ngủ mê mệt, trương lực cơ giảm (cơ nhẽo)
  • Da xanh tái, nhìn thấy rõ nhất vùng trán
  • Ăn, bú khó, khó nuốt hoặc nôn không có lý do rõ ràng
  • Khó thở, ngừng thở hoặc co giật
  • Những dấu hiệu cho thấy chấn thương cổ, sưng nề, cứng cổ, nghẹo về một bên, khó quay.

3.3 Chẩn đoán, sơ cứu và điều trị ban đầu

Chẩn đoán: Thường không nhìn thấy các triệu chứng của tổn thương từ bên ngoài. Tuy nhiên bác sĩ nhãn khoa có thể phát hiện các chảy máu võng mạc mắt khi soi đáy mắt. Khi nghi ngờ, các bác sĩ nhi khoa có thể tiến hành chụp cắt lớp hoặc chụp cộng hưởng từ để tìm thương tổn.

* Sơ cứu ban đầu:

  • Hãy gọi cấp cứu, đừng cố vận chuyển trẻ tới bệnh viện trên các phương tiện thông thường.
  • Đừng bế xốc trẻ lên hay cố gắng lắc thêm làm cho trẻ tỉnh lại
  • Không cho trẻ ăn lúc này
  • Nếu đứa trẻ ngừng thở trước khi có cấp cứu hỗ trợ, cần phải hô hấp nhân tạo để trợ giúp
  • Nếu trẻ có nôn và không có nghi ngờ chấn thương cổ, có thể xoay đầu trẻ nhẹ nhàng về 1 phía để tránh sặc và ngừng thở. Nếu có nghi ngờ chấn thương cổ, tránh xoay trở trẻ và bảo vệ cẩn thận vùng cổ.

* Điều trị: Tại bệnh viện, các bác sĩ sẽ phải xem xét các thương tổn và quyết định một số điều trị như phẫu thuật cầm máu, dẫn lưu trong não thất, thuốc chống giật,…

Rung lắc trẻ sơ sinh nguy hiểm như thế nào? Những tác hại bố mẹ cần biết

3.4 Các nguyên tắc phòng ngừa

Không bao giờ lắc trẻ, kể cả khi vui đùa hay giận dữ. Khi di chuyển trẻ, hãy giữ cổ ở tư thế tương đối cố định. Không ôm giữ trẻ khi cãi cọ.

Một đứa trẻ khóc trong 2-3 giờ vẫn có thể là bình thường. Bạn phải tìm hiểu nhiều nguyên nhân tại sao đứa trẻ khóc quá nhiều. Bạn nên có 1 danh sách các việc cần làm khi đứa trẻ khóc, ví dụ như sau: Trước hết, bạn hãy kiểm tra tã hay bỉm để bảo đảm đã được thay sạch. Bạn có thể nới rộng quần áo nếu trẻ mặc quá chật. Bạn kiểm tra xem trẻ có đói hay không và cho trẻ ăn. Kiểm tra xem trẻ có quá nóng hoặc quá lạnh. Hãy thử sử dụng đầu vú giả. Hãy ôm ấp xoa vuốt nhẹ nhàng trên mình của trẻ, tắt bớt đèn và bật nhạc nhẹ nhàng. Hãy xem các dấu hiệu bất thường khác về cách đứa trẻ thở, nhiệt độ cơ thể. Nếu không có bất kỳ điều gì đặc biệt, bạn có thể an tâm rằng đôi khi đứa trẻ khóc không có nguyên nhân, và khóc cũng không gây nguy hiểm gì cho trẻ. Khi bạn cảm thấy hết cách và rất khó chịu, hãy để đứa trẻ một mình an toàn trong cũi, giữ bình tĩnh, có thể ra ngoài một chút và quay lại kiểm tra mỗi 5-10 phút hoặc yêu cầu người khác trợ giúp.

Giáo dục kỹ lưỡng người giúp việc hay người chăm sóc trẻ, đừng bao giờ giả định rằng họ hiểu hết và biết cách xử thế khi trẻ khóc không thể dỗ được. Hãy cho phép họ được thông báo với bạn khi trẻ khóc, cũng đừng bắt buộc họ phải luôn luôn làm mọi cách để đứa trẻ ngừng khóc. Hãy chia sẻ những điều này cả với những người khác trong gia đình hay thường xuyên chăm sóc trẻ. Những bậc ông bà của trẻ cũng không nên vì quá yêu trẻ mà rung lắc hay tạo áp lực cho cha mẹ của trẻ khi trẻ khóc nhiều.

Cho đến nay, vẫn còn nhiều tranh cãi về mức độ và tư thế như thế nào là nguy hiểm cho trẻ. Trước tiên phải nói rằng những đung đưa nhẹ nhàng không gây nguy cơ này. Nhìn chung, các chuyên gia cho rằng một số động tác như tung trẻ lên không, rung trên đầu gối, đeo hoặc mang khi chạy thể dục, lắc trong võng hay đu ở mức độ thông thường không gây ra hội chứng này.

Rung lắc trẻ sơ sinh tưởng như là một hành động vô hại nhưng thực tế đã để lại nhiều hậu quả khó lường về sức khỏe, gây tổn thương tác động mạnh về nảo bộ cho các bé. Chính vì vậy, những ai đang có con nhỏ cần phải ý thức rằng, việc tung lắc em bé sơ sinh là không nên, hãy dừng ngay hành động này càng sớm càng tốt hoặc nói với người thân của mình tuyệt đối không nên rung lắc trẻ nhỏ, đây là lời khuyên chân thành đến từ chuyên gia và các bác sĩ chăm sóc sức khỏe mẹ & bé đưa ra lời cảnh báo. Chúc bạn xem tin vui và có kế hoạch nuôi dạy bé thật tốt. Nhấn like và share nhanh bài viết này của gonhub.com nhé!