Cập nhật bổ sung Luật cải cách ruộng đất mới chi tiết nhất

Cập nhật bổ sung Luật cải cách ruộng đất mới chi tiết nhất kì này sẽ chủ yếu đề cập tới những nội dung quan trọng liên quan tới mục đích và ý nghĩa của việc cải cách ruộng đất; quy định về việc tịch thu, trưng thu và trưng mua ruộng đất; những quy định về ruộng đất bỏ hoang; về cách chia ruộng đất; nguyên tắc hoạt động chính của cơ quan chấp hành và phương pháp thực hiện việc cải cách ruộng đất. Những chi tiết điều khoản luật chỉnh sửa theo từng danh mục nội dung lớn trong văn bản pháp luật chỉnh sửa bổ sung này cũng được nêu bật rõ ngay sau đây để cá nhân hoặc tổ chức nào đó muốn tìm hiểu sẽ dễ dàng nắm bắt hơn tất tần tật mọi chính sách Luật về cải cách ruộng đất của Quốc hội trong năm nay.

Nào hãy cùng phapluat360.com chúng tôi tham khảo chi tiết Luật về cải cách ruộng đất mới nhất ngay sau đây nhé!

Cập nhật sửa đổi bổ sung Luật cải cách ruộng đất mới chi tiết nhất

LUẬT

CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT

1. Chương I

MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT

Điều 1.

– Mục đích và ý nghĩa cải cách ruộng đất là:

Thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và của đế quốc xâm lược khác ở Việt Nam, xoá bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ,

Để thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân,

Để giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và mở đường cho công thương nghiệp phát triển,

Để cải thiện đời sống của nông dân, bồi dưỡng lực lượng của nhân dân, lực lượng của kháng chiến,

Để đẩy mạnh kháng chiến, hoàn thành giải phòng dân tộc, củng cố chế độ dân chủ nhân dân, phát triển công cuộc kiến quốc.

2. Chương II

TỊCH THU, TRƯNG THU, TRƯNG MUA RUỘNG ĐẤT

Mục 1: ĐỐI VỚI RUỘNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ CỦA ĐẾ QUỐC XÂM LƯỢC KHÁC; CỦA ĐỊA CHỦ VIỆT GIAN, PHẢN ĐỘNG, CƯỜNG HÀO GIAN ÁC

Điều 2.

– Tịch thu toàn bộ ruộng đất và tài sản của thực dân Pháp và của đế quốc xâm lược khác.

Điều 3.

– Đối với địa chủ Việt gian, phản động, cường hào gian ác, thì tuỳ tội nặng nhẹ mà tịch thu toàn bộ hoặc một phần ruộng đất, trâu bò, nông cụ, lương thực thừa, nhà cửa thừa và tài sản khác.

Phần không tịch thu thì trưng thu.

Mục 2: ĐỐI VỚI RUỘNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN CỦA NHÂN SĨ DÂN CHỦ, ĐỊA CHỦ KHÁNG CHIẾN, ĐỊA CHỦ THƯỜNG.

Điều 4.

– Đối với nhân sĩ dân chủ, địa chủ kháng chiến, địa chủ thường, thì:

Trưng thu toàn bộ ruộng đất hiện có cùng trâu bò và nông cụ.

Không đụng đến tài sản khác.

Giá trưng mua ruộng đất là giá sản lượng trung bình hàng năm của ruộng đất trưng mua.

Giá trưng mua trâu bò, nông cụ là giá thị trường ở địa phương.

Giá trưng mua được trả bằng một loại công phiếu riêng.

Công phiếu ấy được trả lãi 1,5 phần trăm mỗi năm.

Sau thời hạn mười năm sẽ hoàn vốn.

Mục 3: ĐỐI VỚI RUỘNG ĐẤT CỦA ĐỊA CHỦ ĐÃ PHÂN TÁN.

Điều 5.

– Từ ngày ban hành sắc lệnh giảm tô (14 tháng 7 năm 1949) đến ngày ban hành sắc lệnh phát động quần chúng triệt để giảm tô (12 tháng 4 năm 1953), việc phân tán ruộng đất của địa chủ với mục đích trốn tránh sắc lệnh giảm tô và sắc lệnh thuế nông nghiệp, là không chính đáng.

Đối với ruộng đất của địa chủ đã phân tán trong trường hợp kể trên, thì xử trí như sau:

1) Ruộng đất đã phân tán vào tay địa chủ thì tịch thu, trưng thu hoặc trưng mua tuỳ trường hợp, như đã quy định ở điều 3 và điều 4.

Giá trưng mua ruộng đất phân tán nói trên là nguyên giá lúc mua.

Giá trưng mua đó được trả cho địa chủ đã mua ruộng đất phân tán bằng công phiếu.

2) Ruộng đất đã phân tán vào tay phú nông thì trưng mua theo nguyên giá lúc mua.

Giá trưng mua sẽ trả dần trong thời hạn không quá năm năm, bằng tiền hay hiện vật.

3) Ruộng đất đã phân tán vào tay trung nông thì coi đó là việc trong nội bộ nông dân lao động, dùng lối thuyết phục mà dàn xếp một cách thoả thuận, để trung nông tự động nhường lại cho nông dân không có ruộng đất hoặc thiếu ruộng đất.

Khi trung nông nhường lại, thì phải đảm bảo cho họ còn số diện tích không dưới mức bình quân chiến hữu hiện nay của trung nông trong xã.

Trung nông nhường ruộng đất được Chính phủ đền bù bằng tiền hay hiện vật theo nguyên giá lúc mua.

4) Ruộng đất đã phân tán vào tay bần cố nông thì không đụng đến.

5) Ruộng đất đã phân tán vào tay tư sản dân tộc thì trưng mua theo nguyên giá lúc mua.

Giá trưng mua sẽ trả dần trong thời hạn không quá năm năm, bằng tiền hay hiện vật.

6) Ruộng đất đã phân tán vào tay các tầng lớp tiểu tư sản, thì thuyết phục họ tự động nhường lại cho nông dân không có ruộng đất hoặc thiếu ruộng đất.

Nếu họ không đủ sống với nghề chính, thì phải để lại cho họ một phần ruộng đất để bù cho họ đủ sống.

Người nhường ruộng đất được Chính phủ đến bù bằng tiền hay hiện vật theo nguyên giá lúc mua.

Điều 6.

– Từ ngày ban hành sắc lệnh phát động quần chúng thực hiện giảm tô (12 tháng 4 năm 1953), những việc phân tán ruộng đất trái phép của địa chủ đều không được thừa nhận.

Ruộng đất địa chủ phân tán trái phép bị tịch thu.

Địa chủ trái phép phải bồi thường thiệt hại cho người đã nhận ruộng đất phân tán đó.

Điều 7.

– Nay xóa bỏ nợ mà nông dân lao động và các tầng lớp nghèo ở nông thôn đã vay của địa chủ.

Điều 8.

– Nay xoá bỏ độc quyền mặt biển và khúc sông.

Nói về Hồ Chí Minh, nói về

Mục 4: ĐỐI VỚI RUỘNG ĐẤT CÔNG VÀ NỬA CÔNG NỬA TƯ VÀ RUỘNG ĐẤT CỦA TÔN GIÁO.

Điều 9.

– Trưng thu:

– Công điền, công thổ;

– Ruộng phe, ruộng giáp, ruộng xóm; ruộng tư văn, tư vũ, lộc điền; ruộng hậu, ruộng họ, ruộng môm sinh, v.v..

– Ruộng đất của các đoàn thể.

Điều 10.

Ruộng đất của tôn giáo (Nhà Chung, nhà chùa, thánh thất, tu viên, v.v…) thì trưng thu và trưng mua.

Trường hợp có mua chính đáng thì trưng mua.

Mục 5: ĐỐI VỚI CÁC LOẠI RUỘNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN KHÁC. RUỘNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN CỦA ĐỊA CHỦ KIÊM NHÀ CÔNG THƯƠNG NGHIỆP VÀ CỦA NHÀ CÔNG THƯƠNG NGHIỆP KIÊM ĐỊA CHỦ

Cập nhật bổ sung Luật cải cách ruộng đất mới chi tiết nhất

Điều 11.

– Để khuyến khích sản xuất và phát triển kinh tế quốc dân, công thương nghiệp được bảo hộ.

Không đụng đến công thương nghiệp của địa chủ.

Không đụng đến đất đại trực tiếp dùng vào việc kinh doanh công thương nghiệp.

Những ruộng đất khác của địa chủ kiêm nhà công thương nghiệp và của nhà công thương nghiệp kiêm địa chủ thì trưng mua.

Ruộng đất và tài sản của những người có ít ruộng đất phát canh hoặc thuê người làm.

Điều 12.

– Những người có ít ruộng đất, nhưng vì tham gia công tác kháng chiến, vì thiếu sức lao động, vì bận làm nghề khác mà phải phát canh hoặc thuê người làm, thì không coi là địa chủ.

Không đụng đến ruộng đất và tài sản của họ.

Ruộng đất và tài sản của phú nông.

Điều 13.

– Kinh tế phú nông được bảo tồn.

Không đụng đến ruộng đất, trâu bò, nông cụ và tài sản khác của phú nông.

Ruộng đất và tài sản của trung nông

Điều 14.

– Bảo hộ ruộng đất, trâu bò, nông cụ và tài sản khác của trung nông.

Trung nông thiếu ruộng đất được chia thêm ruộng đất.

Mục 6: ĐỐI VỚI RUỘNG VẮNG CHỦ VÀ RUỘNG ĐẤT BỎ HOANG RUỘNG ĐẤT VẮNG CHỦ

Điều 15.

– Trưng thu ruộng đất của địa chủ không rõ tông tích.

Điều 16.

– Đối với ruộng đất của địa chủ vắng mặt vì tham gia công tác kháng chiến và của địa chủ tản cư ở vùng tự do mà không phải là Việt gian, phản động, cường hào gian ác, thì trưng mua.

Điều 17.

– Đối với ruộng đất ở vùng tự do của địa chủ hiện nay ở vùng tạm bị chiếm, thì tuỳ thái độ chính trị của từng người mà tịch thu, trưng thu hoặc trưng mua.

Nếu là Việt gian, phản động, cường hào gian ác, thì xử trí như đã quy định ở điều 3.

Nếu không phải là Việt gian, phản động, cường hào gian ác, thì trưng mua, như đã quy định ở điều 4.

RUỘNG ĐẤT BỎ HOANG

Điều 18.

– Trưng thu ruộng đất của địa chủ bỏ hoang bất cứ vì lý do gì.

Ruộng đất không phải của địa chủ mà bỏ hoang quá hai năm không có lý do chính đáng thì trưng thu.

Mục 7: ĐỐI VỚI RUỘNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN CỦA NGOẠI KIỀU.

Điều 19.

– Về nguyên tắc, ngoại kiều không có quyền chiếm hữu ruộng đất ở Việt Nam.

Ngoại kiều được phép sử dụng ruộng đất ở Việt Nam.

Ngoại kiều nông dân từ trước đến nay sống ở nông thôn về nghề cày cấy, trồng trọt, nếu làm mọi bổn phận như người Việt Nam thì được quyền sở hữu ruộng đất.

Điều 20.

– Đối với địa chủ ngoại kiều hợp tác với địch hoặc là phản động, cường hào gian ác, thì tịch thu toàn bộ hoặc một phần ruộng đất và tài sản, tuỳ tội nặng nhẹ.

Phần không tịch thu thì trưng mua.

Đối với địa chủ ngoại kiều không hợp tác với địch, không phải là phản động, cường hào gian ác, thì trưng mua toàn bộ ruộng đất, trâu bò và nông cụ.

3. Chương III

CÁCH CHIA RUỘNG ĐẤT

Mục 1: RUỘNG ĐẤT, TÀI SẢN CHIA, VÀ RUỘNG ĐẤT, TÀI SẢN KHÔNG CHIA.

Cập nhật bổ sung Luật cải cách ruộng đất mới chi tiết nhất

Điều 21.

– Trừ trường hợp quy định ở điều 22, những thứ tịch thu, trưng thu, trưng mua đều chia cho công dân:

1) Ruộng đất, trâu bò, nông cụ và tài sản khác.

2) Đồi, vườn trồng cây ăn quả, trồng chè, chẩu, cọ, sơn, dó, v.v…

Gặp trường hợp chia mà có hại cho sản xuất thì không chia.

Nếu không chia, thi do chính quyền quản lý, hoặc chính quyền giao cho chủ cũ quản lý.

Điều 22.

– Những thứ không chia:

1) Ruộng đất trồng trọt bằng máy móc; đồn điền trồng cà phê, cao su hoặc trồng cây công nghiệp khác; vườn trồng cây ăn quả bằng kỹ thuật tiến bộ; đồn điền thí nghiệm, bãi phi lao ở bờ biển, v.v…

2) Rừng núi lớn, hầm mỏ; hồ lớn, sông ngòi, công trình thuỷ lợi, đê điều; đất ở ven đường xe lửa, đường xá, đất thuộc các đô thị, thị trấn, đất dùng vào các công trình lợi ích chung, v.v…

3) Cảnh vật có tiếng trong lịch sử, hoặc có giá trị về văn hoá, lâu đài, đền, miếu; sách vở tài liệu chính trị và văn hoá, v. v…, nghĩa địa và lăng tẩm, v.v…

Đất đai, nhà cửa và tài sản kể trên là của nhà nước và của chung nhân dân, do chính quyền quản lý.

Điều 23.

– Trong khi chia phải để lại ở mỗi xã một số ruộng đất để dùng vào những việc sau đây: đón thương binh về làng; dự phòng sau này chia cho những người ở xa về; làm trụ sở cho cơ quan, làm trường học v.v…

Điều 24.

– Ruộng đất do nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác khai phá từ Cách mạng Tháng Tám thuộc quyền sở hữu của những người đã có công khai phá.

Không được đụng đến ruộng đất đó.

Mục 2: NGƯỜI ĐƯỢC CHIA

Điều 25.

– Những người sau đây được chia:

1) Nông dân không có ruộng đất hoặc thiếu ruộng đất: bần cố nông và trung nông thiếu ruộng đất.

Phú nông làm tá điền thiếu ruộng đất cũng được chia.

2) Đối với những tầng lớp nghèo ở nông thôn (người làm nghề thủ công, người làm hàng xay hàng xáo, người buôn thúng, bán mẹt, người làm nghề đánh cá, người làm nghề tự do, v.v…), nếu không đủ sống và có sức cày cấy, thì được chia một phần để bù thêm cho đủ sống.

3) Những người sau đây, nếu gia đình họ ở nông thôn và thuộc hạng được chia, thì được chia một phần ngang với phần chia cho nông dân:

a) Liệt sĩ, quân nhân cách mạng, thương binh, bệnh binh.

b) Cán bộ chính quyền và đoàn thể; nhân viên phục vụ kháng chiến, công nhân các xí nghiệp quốc doanh.

4) Công nhân thất nghiệp, và gia đình họ ở nông thôn, nếu không có nghề khác để sống và có sức cày cấy, thì được chia.

5) Những người tản cư về nông thôn, nếu không đủ sống, có sức cày cấy, yêu cầu được chia, và nông dân nơi họ tản cư đồng ý, thì cũng được chia.

Họ chỉ được phép sử dụng mà không có quyền sở hữu ruộng đất được chia.

6) Nhà Chung, nhà chùa, từ đường họ, và các cơ quan tôn giáo khác, được để lại một phần ruộng đất để dùng vào việc thờ cúng.

Phần ruộng đất ấy do nhân dân địa phương bình nghị và Uỷ ban Kháng chiến Hành chính tỉnh xét định.

Trường hợp đặc biệt quan trọng do cấp trên quyết định.

Những người làm nghề tôn giáo, nếu không đủ sống, có sức cày cấy và yêu cầu, thì được chia một phần ruộng đất ở nơi họ hoạt động, hoặc ở quê quán họ.

7) Nhân sĩ dân chủ, địa chủ kháng chiến, địa chủ thường, và gia đình của họ, được chia một phần xấp xỉ với phần chia cho nông dân.

Nhân sĩ dân chủ, địa chủ kháng chiến được chiếu cố một cách thích đáng.

8) Việt gian, phản động, cường hào gian ác bị xử phạt trên năm năm tù thì không được chia; từ năm năm tù trờ xuống thì được chia.

Gia đình họ vẫn được chia.

9) Gia đình ngụy binh ở nông thôn thuộc hạng được chia, thì cũng được chia.

Ngụy binh cũng được chia một phần ruộng đất. Nhưng khi họ chưa bỏ hàng ngũ ngụy quân trở về với Tổ quốc, thì ruộng đất ấy do Uỷ ban Kháng chiến Hành chính hay Nông Hội xã tạm giữ.

10) Ngoại kiều và gia đình họ, nếu không có nghề đủ sống, có sức cày cấy, và yêu cầu, thì được chia một phần ruộng đất.

Mục 3: NGUYÊN TẮC CHIA

Điều 26.

– Nguyên tắc chia là:

– Thiếu nhiều chia nhiều, thiếu ít chia ít, không thiếu không chia;

– Chia trên cơ sở nguyên canh, rút nhiều bù ít, rút tốt bù xấu, rút gần bù xa;

– Chia theo nhân khẩu chứ không theo sức lao động;

– Lấy số diện tích bình quân và số sản lượng bình quân ở địa phương làm tiêu chuẩn để chia;

– Chia theo đơn vị xã; song nếu xã ít người nhiều ruộng, thì có thể san sẻ một phần cho xã khác ít ruộng nhiều người, sau khi đã chia đủ cho nông dân trong xã.

Điều 27.

– Trong khi chia ruộng đất, phải chiếu cố đến quyền lợi của tá điền trung nông.

Khi rút phần ruộng đất mà tá điền trung nông đang cày cấy, thì phải để lại cho họ một phần; phần ruộng đất để lại cộng với số ruộng đất tư của họ phải nhiều hơn số bình quân được chia một ít và không quá số bình quân chiếm hữu của mỗi nhân khẩu trong xã.

Điều 28.

– Liệt sĩ, quân nhân cách mạng, thương binh, bệnh binh được ưu đãi trong khi chia.

Gia đình của họ được chiếu cố.

Điều 29.

– Đối với những nhà nông dân nghèo chỉ có một hai người mà có sức lao động, nếu xã có đủ ruộng đất thì có thể chia cho họ nhiều hơn phần của những người khác.

Điều 30.

– Để khuyến khích tăng gia sản xuất, ruộng đất vỡ hoang chưa quá ba năm của nông dân không tính vào số ruộng đất của họ trong khi chia.

Cập nhật bổ sung Luật cải cách ruộng đất mới chi tiết nhất

Mục 4: QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐƯỢC CHIA.

Điều 31.

– Người được chia ruộng đất có quyền sở hữu ruộng đất đó, và không phải trả cho địa chủ hay chính quyền bất cứ một khoản nào.

Chính quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu ấy cho người được chia. Mọi khế ước cũ đều huỷ bỏ.

Người được chia có quyền chia gia tài, cầm, bán, cho, v.v… ruộng đất được chia.

4. Chương IV

CƠ QUAN CHẤP HÀNH VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT

Điều 32.

– Trong thời gian cải cách ruộng đất, sẽ lập Uỷ ban cải cách ruộng đất ở Trung ương, khu và tỉnh.

Dưới sự lãnh đạo của chính quyền, Uỷ ban cải cách ruộng đất có nhiệm vụ thi hành luật cải cách ruộng đất, và lãnh đạo cụ thể cuộc phát động quần chúng thực hiện cải cách ruộng đất.

Điều 33.

– Ở cấp xã, hội nghị đại biểu nông dân toàn xã, ban chấp hành Nông Hội xã là những cơ quan hợp pháp chấp hành luật cải cách ruộng đất.

Điều 34.

– Khi phân định thành phần giai cấp, phải theo đúng điều lệ phân định thành phần giai cấp ở nông thôn do Chính phủ quy định.

Thành phần giai cấp do hội nghị đại biểu nông dân bình nghị và quyết định. Người đương sự phải được dự hội nghị để tham gia bàn định.

Quyết định của xã về thành phần giai cấp phải do Uỷ ban Kháng chiến Hành chính tỉnh duyệt y, hoặc do cơ quan được Uỷ ban Kháng chiến Hành chính tỉnh uỷ quyền, duyệt y.

Gặp trường hợp tranh chấp, thì phải đưa ra Toà án Nhân dân Đặc biệt xét định.

Điều 35.

– Nghiêm cấm mọi hành động chống lại hoặc phá hoại phong trào phát động quần chúng cải cách ruộng đất.

Từ lúc ban hành luật cải cách ruộng đất đến lúc tuyên bố kết thúc cuộc cải cách ruộng đất, tuyệt đối cấm địa chủ chuyển dịch ruộng đất, trâu bò, nông cụ bằng bất cứ hình thức nào.

Kẻ phạm pháp do Toà án Nhân dân Đặc biệt xét xử.

Điều 36.

– Ở những nơi phát động quần chúng thực hiện cải cách ruộng đất, sẽ lập Toà án Nhân dân Đặc biệt.

Toà án Nhân dân Đặc biệt có nhiệm vụ:

1) Xét xử Việt gian, phản động, cường hào gian ác và những kẻ chống lại hoặc phá hoại cải cách ruộng đất;

2) Xét xử những vụ tranh chấp về ruộng đất và tài sản có liên quan đến cải cách ruộng đất;

3) Xét xử những vụ tranh chấp về phân định thành phần giai cấp.

Đối với kẻ phạm pháp thì xét xử theo pháp luật.

Nghiêm cấm bắt bớ và giết chóc trái phép, đánh đập, tra tấn hoặc dùng mọi thứ nhục hình khác.

Điều lệ tổ chức Toà án Nhân dân Đặc biệt do Chính phủ, quy định.

5. Chương V

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 37.

– Luật cải cách ruộng đất này định cho toàn quốc.

Cập nhật bổ sung Luật cải cách ruộng đất mới chi tiết nhất

Vùng tự do có đủ điều kiện thì thi hành trước. Các vùng khác chưa đủ điều kiện, thì thi hành sau.

Chính phủ sẽ định trong vùng tự do, nơi nào thi hành trước, nơi nào thi hành sau.

Đối với những vùng dân tộc thiểu số, tuỳ theo tình hình, Chính phủ sẽ quy định riêng.

Điều 38.

– Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ban bố luật cải cách ruộng đất.

Chính phủ quy định chi tiết và chịu trách nhiệm thi hành luật cải cách ruộng đất này.

Luật này do Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà thông qua trong khoá họp lần thứ III ngày 4 tháng 12 năm 1953.

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

Nguyễn Thị Kim Ngân

Bản chi tiết dự thảo Luật về cải cách ruộng đất vừa được chúng tôi tổng hợp lại gửi tới bạn trên đây là căn cứ xác thực, là cơ sở pháp lý và là những yếu tố chắc chắn nhất về luật mà mọi tổ chức, mọi cá nhân có thể tham khảo để chủ động lập kế hoạch hiệu quả nhất cho mình. Luật cải cách ruộng đất cùng với nhiều những ý kiến đóng góp sửa đổi Luật theo trình tự các bước rõ ràng như trên sẽ nhận được sự đồng tình từ mọi đối tượng liên quan. Các vấn đề cải cách ruộng đất tại Việt Nam phải đi đôi với các chính sách quản lý, giám sát của Nhà nước thì mới diễn ra theo đúng tiến độ, đúng lộ trình và đảm bảo quyền lợi cho các bên. Tóm lại, đây là một trong những dự Luật tiến bộ nhất mà Quốc hội đang quan tâm, tiếp tục hoàn thiện để đưa vào thực thi trong năm 2019 sắp tới. Phapluat360.com chúc các bạn xem tin vui!

Cập nhật sửa đổi Luật quyền lập hội mới chi tiết đầy đủ nhất

Cập nhật sửa đổi Luật quyền lập hội mới chi tiết đầy đủ nhất được tóm gọn lại trong văn bản mang tính pháp luật chặt chẽ của Quốc hội kì này là thể hiện rõ về sự bảo đảm cho người dân Việt Nam về quyền lập hội. Đối với dự thảo Luật về quyền lập hội này thì mọi công dân đều có quyền tự do lập hội, chỉ cần đó là một tổ chức hoạt động chính đáng, luôn đề cao tinh thần mục tiêu chung trong việc bảo vệ quyền lợi của từng cá nhân, quyền lợi của cả dân tộc, góp phần giữ vững chế độ xã hội Dân chủ Việt Nam Cộng hòa. Còn ngược lại, nếu mục đích lập hội đi ngược với mọi nguyên tắc ban đầu và có nhiều biểu hiểu đấu tranh, chống trả lại sự nghiệp xây dựng, bảo vệ, gìn giữ đất nước đều bị coi là phạm pháp, sẽ bị nghiêm cấm theo luật định. Muốn biết thêm chi tiết về Luật quyền lập hội sửa đổi, mời cập nhật nhanh nội dung sau.

Nào hãy cùng phapluat360.com chúng tôi tham khảo chi tiết Luật về quyền lập hội của Quốc hội bên dưới đây nhé!

Cập nhật sửa đổi bổ sung Luật quyền lập hội mới nhất của Quốc hội

SẮC LỆNH

LUẬT SỐ 102-SL/L-004 NGÀY 20-5-1957 QUY ĐỊNH QUYỀN LẬP HỘI

CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

RA SẮC LỆNH :

Nay ban bố luật quy định quyền lập hội đã được Quốc hội biểu quyết trong khoá họp thứ VI như sau:

LUẬT

QUY ĐỊNH QUYỀN LẬP HỘI

Điều 1.

Quyền lập hội của nhân dân được tôn trọng và bảo đảm. Lập hội phải có mục đích chính đáng, phù hợp với lợi ích nhân dân, có tác dụng đoàn kết nhân dân, để góp phần xây dựng chế độ dân chủ nhân dân của nước ta.

Điều 2.

Mọi người đều có quyền lập hội, trừ những người mất quyền công dân hoặc đang bị truy tố trước pháp luật.

Mọi người có quyền tự do vào hội thành lập hợp pháp, và có quyền tự do ra hội.

Không ai được xâm phạm quyền lập hội và quyền tự do vào hội, ra hội của người khác.

Điều 3.

Để bảo đảm việc lập hội có mục đích chính đáng, bảo vệ và củng cố chế độ dân chủ nhân dân, lập hội phải xin phép.

Thể lệ lập hội sẽ do Chính phủ quy định.

Điều 4.

Những hội đã thành lập trước ngày ban hành luật này và đã hoạt động trong vùng tạm bị chiếm trong thời kỳ kháng chiến, nay muốn tiếp tục hoạt động, đều phải xin phép lại.

Điều 5.

Hội thành lập hợp pháp phải hoạt động theo đúng điều lệ của hội và theo đúng các luật lệ hiện hành, được phép thu hội phí của hội viên, mua bán đổi chác tài sản cần thiết cho sự hoạt động của hội và thưa kiện trước toà án.

Những người chịu trách nhiệm chính của hội, tuỳ trường hợp, là những người sáng lập hay là những uỷ viên ban chấp hành của hội.

Cập nhật sửa đổi Luật quyền lập hội mới chi tiết đầy đủ nhất

Điều 6.

Nếu vi phạm những điều 3, 4 và 5 trên đây thì tuỳ theo trường hợp nặng nhẹ, những người có trách nhiệm sẽ bị cảnh cáo hay là bị truy tố trước toà án, và hội có thể bị giải tán, tài sản của hội có thể bị tịch thu.

Trường hợp bị truy tố trước toà án, những người có trách nhiệm sẽ bị phạt tiền từ mười vạn đồng (100.000 đ) đến năm mươi vạn đồng (500.000 đ) và phạt tù từ một tháng đến một năm, hoặc một trong hai hình phạt ấy.

Trường hợp hội đã bị giải tán mà vẫn cứ tiếp tục hoạt động hoặc tổ chức lại một cách không hợp pháp, thì những người có trách nhiệm sẽ bị truy tố trước toà án và sẽ bị xử phạt tiền từ hai mươi vạn đồng (200.000 đ) đến một triệu đồng (1.000.000 đ) và phạt tù từ một tháng đến hai năm, hoặc một trong hai hình phạt ấy, hội sẽ bị giải tán, tài sản của hội sẽ bị tịch thu.

Điều 7.

Người nào xâm phạm đến quyền lập hội hoặc đến quyền tự do vào hội, ra hội của người khác có thể bị cảnh cáo hoặc bị truy tố trước toà án và bị xử phạt tù từ một tháng đến một năm.

Điều 8.

Người nào lợi dụng quyền lập hội để hoạt động nguy hại đến lợi ích nước nhà, lợi ích nhân dân như là chống pháp luật, chống lại chế độ, chống lại chính quyền dân chủ nhân dân, chia rẽ dân tộc, hại đến thuần phong mỹ tục, phá hoại sự nghiệp đấu tranh cho hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ của Tổ quốc, phá tình hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước, tuyên truyền chiến tranh, sẽ bị truy tố trước toà án và xử phạt theo luật pháp hiện hành, hội có thể bị giải tán và tài sản của hội có thể bị tịch thu.

Cập nhật sửa đổi Luật quyền lập hội mới chi tiết đầy đủ nhất

Điều 9.

Các đoàn thể dân chủ và các đoàn thể nhân dân đã tham gia Mặt trận dân tộc thống nhất trong thời kỳ kháng chiến, được Quốc hội và Chính phủ công nhận, không thuộc phạm vi quy định của luật này.

Điều 10.

Các hội có mục đích kinh tế không thuộc phạm vi quy định của luật này.

Điều 11.

Tất cả luật lệ nào trái với luật này đều bãi bỏ.

Điều 12.

Chính phủ quy định những chi tiết thi hành luật này.

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

Nguyễn Thị Kim Ngân

Chúng tôi vừa cung cấp tới bạn những quy định sửa đổi mới nhất của Luật về quyền lập hội, mọi tổ chức cá nhân nào đang có nhu cầu hay có kế hoạch muốn tổ chức, thành lập hội đoàn theo một mục tiêu, mục đích phấn đấu chính đáng nào đó thì nên tìm hiểu, nghiên cứu trước Luật quyền lập hội của Quốc hội trên đây. Đối với những trường hợp lập hội nhằm mục đích xuyên tạc, làm hại trực tiếp đến lợi ích Nhà nước, lợi ích quốc gia dân tộc đều sẽ bị xử lý nghiêm, hoặc là giải tán hoặc là sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật. Trong trường hợp ngoan cố sẽ có những chế tài xử lý khắc khe và mang tính cưỡng chế cứng rắn hơn. Đó là một vài điểm mới nổi bật đáng chú ý nhất của Luật quyền lập hội năm 2019. Phapluat360.com chúc các bạn xem tin vui!

Quy định mới nhất Luật quyền tự do hội họp của Quốc hội 2019

Quy định mới nhất Luật quyền tự do hội họp của Quốc hội 2019, đối với Luật này thì bạn cần phải hiểu rằng, tự do hội họp tức là quyền của mỗi công dân, có thể được tiến hành tổ chức các cuộc hội họp mà không cần phải xin phép. Luật về quyền tự do hội họp là Luật do Quốc hội ban hành và được quy định tự do trong các cuộc họp gia đình, bạn bè, người thân, các buổi liên hoan sinh hoạt giữa các tổ chức đoàn thể với nhau,….Nhưng còn nếu trong những trường hợp tổ chức cuộc họp cần phải xin phép trước nhưng không làm tốt trách nhiệm của mình, mở phiên họp trái phép, không theo đúng trình tự pháp luật quy định thì sẽ bị phải chịu trách nhiệm bồi thường hoặc xử phạt theo nguyên tắc đề ra. Và còn thêm một số điểm mới Luật quyền tự do hội họp sửa đổi khác nữa mà chúng tôi muốn chia sẻ sau đây.

Nào hãy cùng phapluat360.com chúng tôi cập nhật nhanh Luật quyền tự do hội họp mới nhất bên dưới nhé!

Quy định sửa đổi Luật quyền tự do hội họp của Quốc hội cập nhật mới nhất

LUẬT

SỐ 101-SL/L.003 NGÀY 20-5-1957 QUY ĐỊNH QUYỀN TỰ DO HỘI HỌP

CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

RA SẮC LỆNH:

Nay ban bố luật quy định quyền tự do hội họp đã được Quốc hội biểu quyết trong khoá họp thứ VI như sau:

LUẬT

QUY ĐỊNH QUYỀN TỰ DO HỘI HỌP

Điều 1.

Quyền tự do hội họp của nhân dân được tôn trọng và bảo đảm. Không ai được xâm phạm đến quyền tự do hội họp.

Điều 2.

Không phải xin phép trước:

– Các cuộc hội họp có tính chất gia đình, giữa thân thuộc, bè bạn;

– Các buổi sinh hoạt của các hội hợp pháp, tổ chức trong trụ sở của hội, các cuộc hành lễ thường lệ của các tôn giáo tổ chức trong những nơi thờ cúng;

– Các buổi sinh hoạt của các đoàn thể trong Mặt trận dân tộc thống nhất, và các cuộc hội họp công cộng do các đoàn thể này tổ chức.

Điều 3.

Để đảm bảo việc giữ gìn trật tự an ninh, các cuộc hội họp công cộng, trừ các cuộc hội họp nói trong điều 2, phải được Uỷ ban hành chính địa phương cho phép trước.

Điều 4.

Người tổ chức cuộc hội họp phải chịu trách nhiệm về cuộc hội họp.

Quy định mới nhất Luật quyền tự do hội họp của Quốc hội 2019

Điều 5.

Nếu không theo đúng thể lệ về việc xin phép trước thì người tổ chức, tuỳ trường hợp nặng nhẹ, sẽ bị cảnh cáo hoặc truy tố trước toà án và cuộc hội họp có thể bị cấm hoặc bị giải tán.

Trường hợp bị truy tố toà án, người tổ chức cuộc hội họp trái phép sẽ bị phạt tiền từ năm vạn đồng (50.000 đ) đến hai mươi lăm vạn đồng (250.000 đ) và phạt tù từ một tháng đến sáu tháng, hoặc một trong hai hình phạt ấy.

Trường hợp cuộc hội họp bị cấm mà vẫn cứ tổ chức hoặc đã bị giải tán mà vẫn cứ tổ chức lại, thì người chịu trách nhiệm sẽ bị truy tố trước toà án và sẽ bị phạt tù từ một tháng đến một năm.

Điều 6.

Người nào ngăn cản hoặc phá hoại các cuộc hội họp hợp pháp của người khác, ép buộc người khác tham dự vào các cuộc hội họp bất hợp pháp, bất cứ bằng cách nào, có thể bị cảnh cáo hoặc bị truy tố trước toà án và bị xử phạt tù từ một tháng đến một năm.

Điều 7.

Người nào lợi dụng quyền tự do hội họp để hoạt động trái pháp luật, chống lại chế độ, chống lại chính quyền dân chủ nhân dân, chia rẽ dân tộc, phá tình hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước, tuyên truyền chiến tranh, âm mưu phá hoại sự nghiệp đấu tranh cho hoà bình thống nhất, độc lập, dân chủ, hành động có phương hại đến trật tự an ninh chung, hoặc đến thuần phong mỹ tục, sẽ bị truy tố trước toà án và xử phạt theo luật lệ hiện hành, và cuộc hội họp sẽ bị cấm hoặc bị giải tán.

Quy định mới nhất Luật quyền tự do hội họp của Quốc hội 2019

Điều 8.

Trong tình thế khẩn cấp, xét cần phải tạm thời cấm hội họp, Chính phủ sẽ quyết định.

Điều 9.

Tất cả luật lệ nào trái với luật này đều bãi bỏ.

Điều 10.

Chính phủ quy định những chi tiết thi hành luật này.

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

Nguyễn Thị Kim Ngân

Chúng tôi vừa thông tin tới bạn Luật về quyền tự do hội họp được xây dựng dựa trên ý kiến, nguyện vọng của đại đa số tổ chức cá nhân quan. Luật quyền tự do hội họp sửa đổi bổ sung một số điều lần này nhằm làm rõ về quyền lợi, về trách nhiệm, về nghĩa vụ của tất cả mọi người trong kế hoạch tổ chức cuộc họp. Mặc dù quyền tự do hội họp là có những trường hợp họp không cần phải xin phép ai trước nhưng cũng có những trường hợp tổ chức hội họp phải báo trước, nếu không thì được xem là hành vi trái pháp luật, trái nguyên tắc làm ảnh hưởng tới các cá nhân khác. Và lúc này, tùy mức độ nặng nhẹ khác nhau sẽ bị xử phạt, bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu giải tán. Mong rằng, kiến thức bổ sung Luật như trên sẽ giúp ích cho những ai đang quan tâm. Phapluat360.com chúc các bạn xem tin vui!

Cập nhật mới Luật đảm bảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở đồ vật thư tín của nhân dân chi tiết nhất

Cập nhật mới Luật đảm bảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở đồ vật thư tín của nhân dân chi tiết nhất là bộ luật được xây dựng trên những nguyên tắc quan trọng như quy định về việc bắt người phạm pháp; việc tạm giữ, tạm giam, tạm tha; quy định về việc khám người, khám đồ vật, khám nhà ở và thư tín. Luật về bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở đồ vật thư tín của Nhân dân được biểu quyết tán thành từ nhiều cá nhân, tạo tiền đề pháp lý chắc chắn để không một ai có thể vi phạm tới lợi ích của người dân. Tại Việt Nam, quyền tự do về thân thể hay quyền về bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín được xem là một trong những quyền và lợi ích chính đáng của toàn thể Nhân dân nên Quốc hội Nhà nước luôn đặc biệt quan tâm tới việc bổ sung sửa đổi các khoản luật tiến bộ này.

Hãy cùng phapluat360.com chúng tôi tham khảo chi tiết Luật về đảm bảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở đồ vật thư tín của nhân dân mới nhất bên dưới đây nhé!

Cập nhật sửa đổi Luật đảm bảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở đồ vật thư tín của nhân dân mới nhất

LUẬT

SỐ 103-SL/L.005 NGÀY 20-5-1957 ĐẢM BẢO QUYỀN TỰ DO THÂN THỂ VÀ QUYỀN BẤT KHẢ XÂM PHẠM ĐỐI VỚI NHÀ Ở, ĐỒ VẬT, THƯ TÍN CỦA NHÂN DÂN

CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ RA SẮC LỆNH

Nay ban bố luật quy định quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân đã được Quốc hội biểu quyết trong khoá họp thứ VI như sau:

LUẬT

ĐẢM BẢO QUYỀN TỰ DO THÂN THỂ VÀ QUYỀN BẤT KHẢ  XÂM PHẠM ĐỐI VỚI NHÀ Ở, ĐỒ VẬT, THƯ TÍN CỦA NHÂN DÂN

1. Chương I

NGUYÊN TẮC

Điều 1. Quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật và thư tín của nhân dân được tôn trọng và bảo đảm. Không ai được xâm phạm các quyền ấy.

Điều 2. Việc bắt, giam người phạm đến pháp luật Nhà nước, việc khám người, nhà ở, đồ vật, thư tín phải theo thủ tục quy định dưới đây:

2. Chương II

VIỆC BẮT NGƯỜI PHẠM PHÁP

Điều 3. Ngoài những trường hợp phạm pháp quả tang và trường hợp khẩn cấp nói trong điều 4, bắt người phạm đến pháp luật Nhà nước phải có lệnh viết của cơ quan tư pháp từ cấp tỉnh hoặc thành phố trở lên nếu là thường dân phạm pháp, hoặc của toà án binh nếu là quân nhân phạm pháp, hay là thường dân phạm pháp có liên quan đến quân đội nhân dân.

Điều 4. Đối với những người phạm pháp quả tang, bất cứ người nào cũng có quyền bắt và phải giải ngay đến Uỷ ban Hành chính, Toà án nhân dân hoặc đồn công an nơi gần nhất.

Trong những trường hợp khẩn cấp, cơ quan công an có thể bắt giữ trước khi có lệnh viết của các cơ quan định trong điều 3, và phải báo cho các cơ quan đó biết.

Những trường hợp phạm pháp quả tang và trường hợp khẩn cấp là những trường hợp đặc biệt do luật quy định.

Cập nhật mới Luật đảm bảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở đồ vật thư tín của nhân dân chi tiết nhất

3. Chương III

VIỆC TẠM GIỮ, TẠM GIAM, TẠM THA

Điều 5. Người phạm pháp bị bắt phải được giải lên cơ quan tư pháp hoặc cơ quan công an từ cấp huyện trở lên trong hạn hai mươi bốn giờ kể từ lúc bắt.

Cơ quan tư pháp huyện hoặc công an huyện được tạm giữ can phạm trong hạn ba ngày kể từ lúc nhận can phạm để xét và hỏi cung, rồi phải quyết định tha hẳn, tạm tha, hoặc giải lên toà án nhân dân hoặc công an cấp trên.

Điều 6. Cơ quan tư pháp, công an từ cấp tỉnh hoặc thành phố trở lên hoặc toà án binh phải hỏi cung trong hạn ba ngày kể từ lúc nhận giữ can phạm, để quyết định việc tha hẳn, tạm tha hoặc tạm giam.

Lệnh tạm giam can phạm do cơ quan tư pháp từ cấp tỉnh hoặc thành phố trở lên hoặc toà án binh ký.

Điều 7. Thời hạn tạm giam không được quá:

– Hai tháng đối với các vụ thường phạm mà luật pháp quy định hình phạt từ năm năm tù trở xuống.

– Bốn tháng đối với các vụ phạm đến an toàn Nhà nước và các vụ thường phạm mà luật pháp quy định hình phạt trên năm năm tù.

– Nếu xét thật cần thiết cho cuộc điều tra thì cơ quan ra lệnh tạm giam có thể gia hạn một hoặc hai lần nữa. Đối với những vụ án phức tạp, cần phải điều tra lâu hơn, thì phải được sự chuẩn y của cơ quan tư pháp trung ương.

Điều 8. Trong trường hợp việc tạm giam không cần thiết cho cuộc điều tra nữa, hoặc việc tạm tha không gây nguy hiểm gì cho trật tự chung, thì cơ quan tư pháp hoặc toà án binh nào đã ra lệnh tạm giam có thể tự mình, hoặc căn cứ vào đơn xin của can phạm, ra lệnh tạm tha.

Đối với những can phạm già yếu, có bệnh nặng, hoặc phụ nữ có thai nghén, hoặc phụ nữ đang thời kỳ cho con bú, thì có thể cho tạm tha, và nếu cần sẽ giám thị tại chỗ ở.

Cập nhật mới Luật đảm bảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở đồ vật thư tín của nhân dân chi tiết nhất

4. Chương IV

VIỆC KHÁM NGƯỜI, KHÁM ĐỒ VẬT, KHÁM NHÀ Ở VÀ THƯ TÍN

Điều 9. Trừ những trường hợp định ở điều 10 và điều 11, khám người, đồ vật hoặc nhà ở, thư tín của tư nhân thì phải có lệnh viết của cơ quan tư pháp từ cấp tỉnh hoặc thành phố trở lên hoặc của toà án binh, tuỳ tính chất vụ phạm pháp.

Điều 10. Trong những trường hợp phạm pháp quả tang, hoặc tiến hành điều tra vụ án mà can phạm đang bị tạm giữ, hoặc tạm giam, hoặc được uỷ quyền điều tra toàn bộ vụ phạm pháp, tư pháp, công an, toà án binh có thể khám người, đồ vật, nhà ở, thư tín của người phạm pháp và những người có liên quan đến vụ án.

Điều 11. Trong những trường hợp khẩn cấp, hoặc có triệu chứng phạm pháp, công an có thể khám người, đồ vật, nhà ở, thư tín.

Điều 12. Trừ những trường hợp định ở điều 10 và điều 11, nhân viên thi hành lệnh khám nhà phải cùng đi với một uỷ viên Uỷ ban Hành chính địa phương, người chủ nhà hoặc thay mặt chủ nhà và một người láng giềng, khi khám xong phải lập biên bản khám xét và giữ tang vật nếu có.

Điều 13. Cơ quan đang tiến hành cuộc điều tra nếu thấy cần giữ lại những thư từ, điện tín, bưu phẩm của những người phạm pháp, thì có thể yêu cầu cơ quan bưu điện giao lại để xét.

5. Chương V

ĐIỀU KHOẢN CHUNG

Điều 14. Đối với những người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, tuyệt đối nghiêm cấm tra tấn hoặc dùng bất cứ nhục hình nào.

Điều 15. Trong khi tiến hành việc bắt, tạm giữ, tạm giam, khám người, khám đồ vật, khám nhà và thư tín, mà người phạm pháp kháng cự lại hoặc có hành động để trốn tránh pháp luật thì có thể dùng phương pháp cưỡng chế thích đáng để bắt kẻ phạm pháp tuân theo pháp luật.

Điều 16. Những người bắt, giam, khám người, khám đồ vật, nhà ở, thư tín trái với đạo luật này thì tuỳ trường hợp có thể bị thi hành kỷ luật hành chính hoặc xử phạt từ mười lăm ngày đến ba năm tù.

Nếu phạm tội tra tấn, dùng nhục hình thì sẽ bị xử phạt thêm theo hình luật chung.

Điều 17. Việc tạm giữ người phạm tội vi cảnh và quyền hạn của cán bộ, nhân viên các ngành thuế, ngành hải quan, lâm chính trong việc khám người, đồ vật, nhà ở không thuộc phạm vi của đạo luật này.

Điều 18. Tất cả luật lệ nào trái với luật này đều bãi bỏ.

Điều 19. Chính phủ quy đinh chi tiết thi hành luật này.

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

Nguyễn Thị Kim Ngân

Đây là những thông tin mới liên quan tới Luật về đảm bảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở đồ vật thư tín của nhân dân mà chúng tôi vừa tổng hợp được, hi vọng rằng, kiến thức về luật do Quốc hội ban hành này sẽ tiếp tục nhận nhiều sự đồng tình từ mọi người. Luật bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của Nhân dân đã chính thức thông qua từ lâu, cho tới nay có thêm nhiều điểm mới dần hoàn thiện luật để thể hiện rõ trách nhiệm quyền lợi của người dân, trách nhiệm quản lý từ phía ban ngành Nhà nước đối với lợi ích chính đáng này của đại đa số công dân Việt Nam. Hãy luôn đồng hành và ủng hộ kênh tư vấn phapluat360.com để biết thêm nhiều tin tức mới mẻ khác về Luật nhé!

Quy định sửa đổi Luật chế độ phục vụ của sĩ quan quân đội Nhân dân Việt Nam mới nhất

Quy định sửa đổi Luật chế độ phục vụ của sĩ quan quân đội Nhân dân Việt Nam mới nhất, đối với bộ luật quan trọng và mang tính cấp thiết này, Quốc hội đã kịp đưa ra một số điều khoản rõ ràng nhằm xác định nhiệm vụ, quyền hạn của các cán bộ đang hoạt động, công tác trong hàng ngũ quân đội. Đối với người cán bộ, chiến sĩ của lực lượng quân đội Nhân dân Việt Nam thì nhiệm vụ cao cả vẫn là hướng về Tổ quốc, về sự nghiệp bảo vệ Đảng và Nhân dân. Luật về chế độ phục vụ của sĩ quan quân đội Nhân dân bao gồm những nội dung chính liên quan tới quân hàm và chức vụ của sĩ quan quân đội; nhiệm vụ của sĩ quan xuất ngũ, chuyển sang dự bị, giải ngạch dự bị; nghĩa vụ và quyền lợi của sĩ quan. Từng cấp hàm, chức danh trong hàng ngũ sĩ quan quân đội luôn đóng một vai trò quan trọng không thể thiếu, là lực lượng tiên phong trong công tác xây dựng gìn giữ bình yên cho đất nước.

Hãy cùng phapluat360.com chúng tôi tham khảo chi tiết Luật chế độ phục vụ của sĩ quan quân đội Nhân dân Việt Nam mới nhất ngay bây giờ nhé!

Quy định sửa đổi Luật chế độ phục vụ của sĩ quan quân đội Nhân dân Việt Nam cập nhật mới nhất

LUẬT

QUY ĐỊNH CHẾ ĐỘ PHỤC VỤ CỦA SĨ QUAN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
(Đã được Quốc hội biểu quyết trong phiên họp ngày 31-5-1958)

Để đẩy mạnh việc xây dựng Quân đội nhân dân tiến lên chính quy và hiện đại, tăng cường lực lượng Quốc phòng, bảo đảm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, phục vụ nhân dân;

Để xác định nhiệm vụ, quyền hạn, vinh dự cho cán bộ trong Quân đội, nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức và ý thức kỷ luật của cán bộ và chiến sĩ;

Nay quy định chế độ phục vụ của sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam như sau:

1. Chương I

ĐIỀU KHOẢN CHUNG

Điều 1.

Những quân nhân thuộc các cấp Tướng, cấp Tá, cấp Uý đều gọi là sĩ Quan.

Điều 2.

Về phương diện nghiệp vụ trong Quân đội, sĩ quan chia ra các loại như sau:

– Sĩ quan chỉ huy

– Sĩ quan chính trị

– Sĩ quan hậu cần

– Sĩ quan kỹ thuật

– Sĩ quan quân y và thú y

– Sĩ quan quân pháp

– Sĩ quan hành chính.

Điều 3.

Về phương diện điều kiện phục vụ, sĩ quan gồm có sĩ quan tại ngũ và sĩ quan dự bị.

– Sĩ quan tại ngũ có sĩ quan tại ngũ ở đơn vị và sĩ quan tại ngũ biệt phái.

– Sĩ quan dự bị chia ra hai hạng: sĩ quan dự bị hạng 1 và sĩ quan dự bị hạng 2, theo hạn tuổi phục vụ cao nhất quy định ở điều 39 dưới đây.

Điều 4.

Những người sau đây được lấy để bổ sung cho sĩ quan tại ngũ:

1) Trong thời bình:

a) Quân nhân tốt nghiệp ở các trường đào tạo sĩ quan của Bộ Quốc phòng.

b) Sĩ quan dự bị được gọi ra từng người.

2) Trong thời chiến:

a) Sĩ quan dự bị được tổng động viên.

b) Quân nhân tốt nghiệp ở các trường đào tạo sĩ quan của Bộ Quốc phòng.

c) Hạ sĩ quan và binh sĩ trong khi chiến đấu đã tỏ ra anh dũng, linh hoạt, lập được chiến công, hoặc trong công tác có thành tích xuất sắc.

d) Cán bộ công tác ở các ngành ngoài Quân đội được Bộ Quốc phòng trưng tập.

Điều 5.

Sĩ quan dự bị gồm có:

a) Những sĩ quan được xếp vào ngạch dự bị theo điều 30.

b) Những hạ sĩ quan đã hết hạn tại ngũ trước khi chuyển sang dự bị, hoặc trong thời gian dự bị mà trúng tuyển kỳ thi sĩ quan dự bị và được phong cấp Thiếu uý dự bị.

c) Những học sinh tốt nghiệp các trường Đại học và kỹ thuật chuyên nghiệp trúng tuyển kỳ thi sĩ quan dự bị, hoặc có trí thức chuyên môn có thể đảm nhiệm được chức vụ trong Quân đội và được phong cấp bậc sĩ quan dự bị.

2. Chương II

QUÂN HÀM VÀ CHỨC VỤ CỦA SĨ QUAN

Mục 1: QUÂN HÀM CỦA SĨ QUAN

Điều 6.

Hệ thống quân hàm sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam gồm các cấp bậc sau đây:

1) Tướng: Đại tướng

Thượng tướng

Trung tướng

Thiếu tướng.

2) Tá: Đại tá

Thượng tá

Trung tá

Thiếu tá.

3) Uý: Đại uý

Thượng uý

Trung uý

Thiếu uý.

Chuẩn uý chưa phải là sĩ quan, mới là một cấp chuẩn bị lên sĩ quan.

Điều 7.

Việc xét phong cấp bậc quân hàm cho cán bộ căn cứ vào phẩm chất chính trị, năng lực nghiệp vụ, cấp bậc và chức vụ hiện tại, thành tích phục vụ trong Quân đội và công lao đối với Cách mạng của cán bộ.

Điều 8.

Có thể được phong Thiếu uý:

1) Những quân nhân tốt nghiệp ở các Trường đào tạo sĩ quan của Bộ Quốc phòng.

2) Những hạ sĩ quan và binh sĩ khi chiến đấu đã tỏ ra anh dũng, linh hoạt, lập được chiến công hoặc trong công tác có thành tích xuất sắc.

Những cán bộ công tác ở các ngành ngoài Quân đội được Bộ Quốc phòng trưng tập thì có thể được phong cấp bậc Thiếu uý hoặc phong một cấp bậc cao hơn.

Quy định sửa đổi Luật chế độ phục vụ của sĩ quan quân đội Nhân dân Việt Nam mới nhất

Điều 9.

Quyền phong cấp bậc cho sĩ quan quy định như sau:

– Chủ tịch nước phong các cấp bậc Thiếu tướng, Trung tướng, Thượng tướng và Đại tướng.

– Thủ tướng Chính phủ phong các cấp bậc Thượng tá và Đại tá.

– Bộ Trưởng Bộ Quốc phòng phong các cấp bậc Thiếu uý, Trung uý, Thượng uý, Đại uý, Thiếu tá và Trung tá.

Điều 10.

Việc xét thăng cấp bậc cho sĩ quan căn cứ vào niên hạn ở cấp bậc quân hàm hiện tại, phẩm chất chính trị, năng lực nghiệp vụ, thành tích chiến đấu và công tác.

Điều 11.

Niên hạn tối thiểu của sĩ quan tại ngũ để xét việc thăng cấp bậc ấn định như sau:

– Từ Thiếu uý lên Trung uý 3 năm

– Từ Trung uý lên Thượng uý 3 năm

– Từ Thượng uý lên Đại uý 4 năm

– Từ Đại uý lên Thiếu tá 4 năm

– Từ Thiếu tá lên Trung tá 4 năm

– Từ Trung tá lên Thượng tá 4 năm

– Từ Thượng tá lên Đại tá 5 năm

Từ cấp Đại tá trở lên thì việc thăng cấp bậc căn cứ vào nhu cầu của Quân đội, đức tài và thành tích của sĩ quan mà quyết định.

Điều 12.

Thời gian sĩ quan học tập tại các trường quân sự được tính vào niên hạn thăng cấp bậc.

Điều 13.

Những sĩ quan có công trạng, thành tích đặc biệt về chiến đấu hoặc công tác có thể được xét thăng cấp trước khi đủ niên hạn.

Điều 14.

Những sĩ quan đã đủ niên hạn để xét thăng cấp bậc nhưng chưa đủ tiêu chuẩn để được thăng cấp bậc như đã nói ở điều 10 thì có thể được kéo dài niên hạn từ một năm đến ba năm. Sau thời hạn này nếu vẫn không đủ điều kiện để được thăng cấp bậc thì sĩ quan sẽ chuyển sang ngạch dự bị.

Điều 15.

Quyền thăng cấp bậc cho sĩ quan quy định như sau:

– Chủ tịch nước quyết định cho thăng lên các cấp bậc Thiếu tướng, Trung tướng, Thượng tướng và Đại tướng.

– Thủ tướng Chính phủ quyết định cho thăng lên các cấp bậc Thượng tá, Đại tá.

– Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định cho thăng lên các cấp bậc Thượng uý, Đại uý, Thiếu tá, Trung tá.

– Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm các Tổng Cục, Tổng thanh tra Quân đội và các cấp tương đương quyết định cho thăng lên Trung uý đối với những Thiếu uý thuộc quyền và thăng lên Thượng uý đối với những Trung uý thuộc quyền.

– Tư lệnh và Chính uỷ Quân Khu quyết định cho thăng lên Trung uý đối với những Thiếu uý thuộc quyền; Bộ Trưởng Bộ Quốc phòng có thể uỷ quyền cho Tư lệnh và Chính uỷ Quân khu quyết định cho thăng lên Thượng uý đối với những Trung uý thuộc quyền.

Điều 16.

Mỗi lần thăng cấp bậc, sĩ quan chỉ được thăng lên một bậc. Trường hợp đặc biệt cần thăng vượt bậc thì từ Thiếu uý đến Trung tá do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định; từ Trung tá đến Đại tá do Thủ tướng Chính phủ quyết định, từ Thiếu tướng trở lên do Chủ tịch nước quyết định.

Điều 17.

Cấp có thẩm quyền cho thăng lên cấp bậc nào thì có thẩm quyền giáng đối với cấp bậc ấy. Mỗi khi quyết định giáng cấp bậc chỉ được giáng xuống một bậc. Trường hợp phải giáng xuống nhiều bậc thì đối với các sĩ quan từ Thiếu tướng đến Đại tướng do Chủ tịch nước quyết định; từ Thượng tá đến Đại tá do Thủ tướng Chính phủ quyết định; từ Trung tá trở xuống do Bộ Trưởng Bộ Quốc phòng quyết định. Kỷ luật giáng cấp bậc không áp dụng đối với Thiếu uý.

Điều 18.

Đối với sĩ quan bị giáng cấp bậc, niên hạn thăng ở cấp bậc mới tính từ ngày bị giáng cấp bậc.

Những sĩ quan bị giáng cấp bậc sau đã sửa chữa sai lầm, hoặc đã có thành tích xuất sắc trong chiến đấu hoặc trong công tác, thì có thể được rút ngắn niên hạn thăng cấp bậc.

Điều 19.

Những sĩ quan tại ngũ hoặc sĩ quan dự bị phạm pháp bị toà án xử phạt tù thì có thể bị tước quân hàm sĩ quan. Việc tước quân hàm sĩ quan ở cấp nào do cấp có thẩm quyền phong hay thăng cấp ấy quyết định.

Điều 20.

Những người bị tước quân hàm sĩ quan theo điều 19, sau khi đã hết hạn tù, thì tuỳ theo nhu cầu của Quân đội có thể được gọi ra tiếp tục phục vụ trong Quân đội, và có thể tuỳ theo tính chất sai lầm trong khi phạm pháp, mức độ cải tạo và năng lực công tác của sĩ quan mà được phong một cấp bậc thích đáng.

Mục 2: CHỨC VỤ CỦA SĨ QUAN

Điều 21.

Mỗi cấp bậc quân hàm có một chức vụ tương đương trong biên chế.

Hệ thống chức vụ trong biên chế của Quân đội do Chính phủ ấn định căn cứ vào tình hình tổ chức cụ thể của Quân đội trong từng giai đoạn.

Điều 22.

Việc bổ nhiệm sĩ quan vào các chức vụ trong biên chế Quân đội căn cứ vào phẩm chất chính trị, năng lực nghiệp vụ của mỗi người. Việc bổ nhiệm sĩ quan vào các chức vụ trong biên chế Quân đội căn cứ vào nhu cầu của biên chế.

Điều 23.

Quyền bổ nhiệm chức vụ, giáng chức vụ và bãi chức vụ đối với sĩ quan qui định như sau:

1- Chủ tịch nước quyết định đối với các chức vụ: Tổng Tư lệnh, Tổng Tham mưu trưởng và Tổng Tham mưu phó, Chủ nhiệm và Phó Chủ nhiệm các Tổng cục, Tổng Thanh tra và Phó Tổng Thanh tra Quân đội, Tư lệnh, Chính uỷ quân khu và các cấp tương đương.

2- Thủ tướng Chính phủ quyết định đối với các chức vụ Quân khu phó, Tham mưu trưởng và Chủ nhiệm chính trị quân khu, Sư đoàn trưởng, Chính uỷ sư đoàn, Sư đoàn phó và các cấp tương đương.

3- Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định đối với các chức vụ từ Trung đoàn trưởng, Chính uỷ Trung đoàn trở xuống. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có thể uỷ quyền cho Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm các Tổng cục, Tư lệnh và Chính uỷ quân khu và các cấp tương đương quyết định đối với các chức vụ từ Tiểu đoàn trưởng trở xuống.

Điều 24.

Vì nhu cầu công tác hoặc vì lý do sức khoẻ một sĩ quan có thể được giao cho giữ một chức vụ thấp hơn chức vụ tương đương với quân hàm của mình. Nhưng trường hợp này không phải là giáng chức, sĩ quan vẫn giữ nguyên cấp bậc cũ.

Điều 25.

Trong trường hợp khẩn cấp, Thủ trưởng đơn vị từ cấp Trung đoàn trưởng trở lên có quyền quyết định đình chỉ chức vụ đối với các sĩ quan thuộc quyền dưới mình hai cấp, và có quyền chỉ định người khác thay thế, nhưng phải báo cáo ngay lên cấp có thẩm quyền xét duyệt.

Điều 26.

Những sĩ quan tại ngũ được Bộ Quốc phòng cử đến các ngành ngoài Quân đội để phụ trách những công tác có tính chất quân sự hoặc liên quan đến Quốc phòng gọi là sĩ quan tại ngũ biệt phái.

Điều 27.

Các ngành ngoài Quân đội, khi muốn thay đổi công tác của sĩ quan tại ngũ biệt phái đến công tác ở ngành mình thì phải được Bộ Quốc phòng đồng ý.

Bộ Quốc phòng có quyền thay đổi sĩ quan tại ngũ biệt phái hoặc rút về phục vụ trong Quân dội.

Điều 28.

Sĩ quan tại ngũ biệt phái có những nghĩa vụ và quyền lợi như các sĩ quan tại ngũ khác.

Sĩ quan tại ngũ biệt phái có nhiệm vụ tham gia những lớp huấn luyện quân sự theo quy định của Bộ Quốc phòng.

Lương và phụ cấp sĩ quan tại ngũ biệt phái do cơ quan sử dụng đài thọ căn cứ vào chức vụ giao cho sĩ quan đảm nhiệm, nhưng không được thấp hơn tiêu chuẩn mà sĩ quan đã được hưởng trước kia trong Quân đội.

3. Chương III

SĨ QUAN XUẤT NGŨ, CHUYỂN SANG DỰ BỊ, GIẢI NGẠCH DỰ BỊ

Điều 29.

Sĩ quan tại ngũ ở vào một trong những trường hợp dưới đây được cấp có thẩm quyền chuẩn y thì được xuất ngũ:

1) Quá tuổi tại ngũ ấn định ở điều 39.

2) Không còn đủ điều kiện sức khoẻ để tiếp tục công tác tại ngũ.

3) Quân đội thực hiện việc chỉnh biên, giảm bớt quân số.

4) Được chuyển ngành đi nhận công tác khác ngoài Quân đội.

5) Thiếu khả năng chuyên môn hoặc những điều kiện cần thiết để tiếp tục công tác tại ngũ.

6) Bản thân sĩ quân yêu cầu và được cấp có thẩm quyền chuẩn y.

Điều 30.

Sĩ quan xuất ngũ nhưng còn đủ điều kiện về các mặt tuổi, sức khoẻ và khả năng để phục vụ trong ngạch dự bị, và được cấp có thẩm quyền chuẩn y, thì được xếp vào ngạch dự bị.

Điều 31.

Sĩ quan dự bị có nhiệm vụ tham gia những lớp huấn luyện quân sự theo quy định của Bộ Quốc phòng.

Điều 32.

Sĩ quan dự bị khi tham gia các lớp huấn luyện quân sự, nếu có thành tích xuất sắc, có thể được thăng cấp quân hàm.

Điều 33.

Trong thời gian tham gia các lớp huấn luyện quân sự, nếu sĩ quan dự bị phạm tội thì do Toà án binh xét xử.

Điều 34.

Trong thời chiến, sĩ quan dự bị được gọi ra từng phần hoặc toàn bộ để phục vụ tại ngũ theo mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hoặc các cấp được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng uỷ quyền. Trong thời bình, tuỳ theo nhu cầu của Quân đội, sĩ quan dự bị có thể được gọi ra từng người phục vụ tại ngũ.

Quy định sửa đổi Luật chế độ phục vụ của sĩ quan quân đội Nhân dân Việt Nam mới nhất

Điều 35.

Sĩ quan dự bị ở vào một trong những trường hợp dưới đây và được cấp có thẩm quyền chuẩn y thì được phép giải ngạch dự bị:

1) Đã phục vụ đến hết hạn tuổi dự bị hạng 2 của cấp bậc mình.

2) Bị bệnh, bị thương, bị tàn phế, không thể phục vụ được nữa.

Điều 36.

Sĩ quan xuất ngũ, sĩ quan dự bị và sĩ quan giải ngạch dự bị vẫn được giữ danh hiệu cấp bậc quân hàm cũ của mình.

Điều 37.

Các cấp sau đây có quyền chuẩn y cho sĩ quan xuất ngũ, chuyển sang dự bị hoặc giải ngạch dự bị.

1) Chủ tịch nước quyết định đối với các cấp bậc Thiếu tướng, Trung tướng, Thượng tướng và Đại tướng.

2) Thủ tướng Chính phủ quyết định đối với các cấp bậc Thượng tá và Đại tá.

3) Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định đối với các cấp bậc Thượng uý, Đại uý, Thiếu tá và Trung tá.

4) Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm các Tổng Cục, Tổng Thanh tra Quân đội và các cấp tương đương quyết định đối với những thiếu uý, Trung uý và Thượng uý thuộc quyền.

5) Tư lệnh và Chính uỷ Quân khu, hoặc các cấp tương đương quyết định đối với những thiếu uý và Trung uý thuộc quyền. Tuỳ theo tình hình cụ thể của từng Quân khu, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có thể uỷ quyền cho Tư lệnh và Chính uỷ Quân khu quyết định đối với những Thượng uý thuộc quyền.

4. Chương IV

NGHĨA VỤ VÀ QUYỀN LỢI CỦA SĨ QUAN

Điều 38.

Sĩ quan có nghĩa vụ và quyền lợi công dân quy định trong hiến pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

Điều 39.

Hạn tuổi phục vụ cao nhất của các sĩ quan tại ngũ và sĩ quan dự bị ấn định như sau:

Cấp bậc

Tại ngũ

Dự bị hạng 1

Dự bị hạng 2

a) Sĩ quan lục quân:

Thiếu uý

33 tuổi

43 tuổi

48 tuổi

Trung uý

33 –

43 –

48 –

Thượng uý

38 –

48 –

52 –

Đại uý ³

38 –

48 –

53 –

Thiếu tá 43 – 53 – 58 –
Trung tá 48 – 58 – 63 –
Thượng tá 50 – 58 – 63 –
Đại tá 50 – 58 – 63 –
Thiếu tướng 55 – 60 – 65 –

b) Sĩ quan hải quân và không quân

Thiếu uý 38 – 43 – 48 –
Trung uý 38 – 43 – 48 –
Thượng uý 43 – 48 – 53 –
Đại uý 43 – 48 – 53 –
Thiếu tá 48 – 53 – 58 –
Trung tá 53 – 58 – 63 –
Thượng tá 53 – 58 – 63 –
Đại tá 55 – 58 – 63 –
Thiếu tướng 58 – 60 – 65 –

Từ Trung tướng trở lên không ấn định hạn tuổi phục vụ cao nhất.

Hạn tuổi phục vụ cao nhất của các loại sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, quân y và thú y do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ấn định.

Điều 40.

Tuỳ theo sự cần thiết của Quân đội, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có quyền kéo dài thời hạn tại ngũ của từng sĩ quan từ cấp bậc Thiếu uý đến cấp bậc Đại tá đến hết hạn dự bị hạng 2 của mỗi cấp bậc sĩ quan. Đối với cấp bậc Thiếu tướng, nếu cần kéo dài thời hạn tại ngũ, thì phải được Thủ tướng Chính phủ chuẩn y.

Điều 41.

Trong thời bình, sĩ quan tại ngũ được nghỉ phép theo chế độ hàng năm. Khi có tuyên bố tình trạng chiến tranh thì tất cả các sĩ quan đang nghỉ phép phải tức khắc trở về đơn vị của mình. Người nào làm trái với điều này sẽ bị thi hành kỷ luật.

Điều 42.

Sĩ quan cấp bậc quân hàm cao là cấp trên của sĩ quan cấp bậc quân hàm thấp hơn. Trường hợp một sĩ quan mà chức vụ phụ thuộc vào một sĩ quan khác ở cấp bậc quân hàm thấp hơn hoặc ngang cấp bậc mình, thì người giữ chức vụ phụ thuộc này là cấp dưới của người giữ chức vụ cao.

Điều 43.

Khi cấp trên giao công tác, nếu sĩ quan không nhận nhiệm vụ hoặc trì hoãn thời hạn nhận nhiệm vụ mà không có lý do chính đáng, thì sẽ bị thi hành kỷ luật.

Điều 44.

Sĩ quan lập được công trạng sẽ được tặng thưởng huân chương, huy chương, bằng khen hay danh hiệu vinh dự theo các thể lệ hiện nay.

Điều 45.

Sĩ quan phải đeo đúng cấp hiệu của cấp bậc mình. Những sĩ quan dự bị chỉ mang cấp hiệu của mình trong khi tham dự các lớp huấn luyện quân sự. Người nào trái với điều này sẽ bị thi hành kỷ luật. Mẫu quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu và lễ phục của sĩ quan do Chính phủ ấn định.

Điều 46.

Những điểm về kỷ luật nói ở điều 41, 43 và 45 trên đây sẽ do Chính phủ quy định trong quy chế Quân đội.

5. Chương V

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 47.

Sắc lệnh số 116/SL ngày 25 tháng 1 năm 1948 đặt một hệ thống quân hàm, sắc lệnh số 131/SL ngày 15 tháng 2 năm 1948 phân hạng và định hạn thăng cấp cho các Đại uý, Thiếu tá và Trung tá trong Quân đội quốc gia Việt Nam và các điều khoản trong các luật lệ khác ban hành trước đây trái với luật này đều bãi bỏ.

Điều 48.

Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật này.

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

Nguyễn Thị Kim Ngân

Mong rằng, với những kiến thức liên quan tới Luật về chế độ phục vụ của sĩ quan quân đội Nhân dân Việt Nam như chúng tôi vừa trình bày ở trên đây sẽ góp phần hỗ trợ cho các lực lượng sĩ quan trong quân ngũ hoàn thành tốt nhất mọi trách nhiệm của mình với Nhà nước, với toàn Đảng toàn dân. Luật chế độ phục vụ của sĩ quan quân đội Nhân dân Việt Nam với một số quy định chuẩn mực cùng với chính sách ưu tiên, hỗ trợ đặc biệt cho sĩ quan sau khi xuất ngũ sẽ khơi dậy tinh thần phấn đấu của từng cá nhân, đảm bảo nền hòa bình dân tộc được giữ vững nhờ một trong những lực lượng nòng cốt này. Phapluat360.com chúc các bạn xem tin vui!

Quy định mới nhất Luật tổ chức Hội đồng Chính phủ Việt Nam năm 2019

Quy định mới nhất Luật tổ chức Hội đồng Chính phủ Việt Nam năm 2019, luật này được hoạch ra để chủ yếu bàn về các nội dung chính là thông tin về các bộ, các cơ quan ngang bộ hiện nay; thông tin về các cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, nhiệm vụ quyền hạn và chức năng của các cơ quan ban ngành Nhà nước, hoạt động chính của bộ máy Nhà nước trong khuôn khổ pháp luật cho pháp. Mỗi một ban ngành, mỗi một vị trí và cơ quan quan trọng trong Hội đồng Chính phủ đều thể hiện rõ quan điểm của mình với nhiệm vụ cao cả là phục vụ đất nước, phục vụ Nhân dân. Luật về tổ chức Hội đồng Chính phủ đã được ban hành, phê duyệt từ trước nhưng tới thời điểm này, một số điểm điều chỉnh tiến bộ từ Quốc hội sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết mọi tiến trình công việc.

Nào hãy cùng phapluat360.com chúng tôi tham khảo cập nhật những quy định chung của Luật về tổ chức Quốc hội mới nhất bên dưới đây nhé!

Quy định sửa đổi bổ sung Luật tổ chức Hội đồng Chính phủ Việt Nam mới nhất 2019

LỆNH

CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ SỐ 18/LCT NGÀY 26-7-20… CÔNG BỐ LUẬT TỔ CHỨC HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

Căn cứ vào điều 63 của Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà:

NAY CÔNG BỐ:

Luật tổ chức Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá thứ II, kỳ họp thứ nhất, thông qua ngày 14 tháng 7 năm 20…

LUẬT

TỔ CHỨC HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

Điều 1

Căn cứ vào chương VI của Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, luật này quy định tổ chức của Hội đồng Chính phủ.

Điều 2

Hội đồng Chính phủ gồm có Thủ tướng, các Phó thủ tướng, các Bộ trưởng và các Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ.

Thủ tướng Chính phủ và mỗi thành viên của Hội đồng Chính phủ chịu trách nhiệm chung trước Quốc hội về toàn bộ công tác của Chính phủ, đồng thời chịu trách nhiệm riêng trước Quốc hội về phần công tác của mình.

Hội đồng Chính phủ tổ chức và lãnh đạo toàn bộ công tác trong phạm vi trách nhiệm của mình theo nguyên tắc tập trung dân chủ.

Điều 3

Các Bộ và cơ quan ngang Bộ hiện nay có:

– Bộ Nội vụ,

– Bộ Ngoại giao,

– Bộ Quốc phòng,

– Bộ Công an,

– Bộ Nông nghiệp,

– Bộ Nông trường,

– Bộ Thuỷ lợi và Điện lực,

– Bộ Công nghiệp nặng,

– Bộ Công nghiệp nhẹ,

– Bộ Kiến trúc,

– Bộ Giao thông và Bưu điện,

– Bộ Lao động,

– Bộ Tài chính,

– Bộ Nội thương,

– Bộ Ngoại thương,

– Bộ Văn hoá,

– Bộ Giáo dục,

– Bộ Y tế,

– Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước,

– Uỷ ban Khoa học Nhà nước,

– Uỷ ban Dân tộc,

– Uỷ ban Thanh tra,

– Uỷ ban Thống nhất,

– Ngân hàng Nhà nước.

Việc đặt thêm hoặc bãi bỏ Bộ và cơ quan ngang Bộ do Hội đồng Chính phủ trình Quốc hội phê chuẩn, giữa hai kỳ họp Quốc hội thì trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn.

Quy định mới nhất Luật tổ chức Hội đồng Chính phủ Việt Nam năm 2019

Điều 4

Tuỳ sự cần thiết, Hội đồng Chính phủ đặt những cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ. Các cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ hiện nay có:

– Tổng cục Địa chất,

– Tổng cục Lâm nghiệp,

– Tổng cục Thuỷ sản,

– Tổng cục Vật tư,

– Uỷ ban Liên lạc văn hoá với nước ngoài,

– Uỷ ban Thể dục thể thao trung ương.

Việc đặt thêm hoặc bãi bỏ cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ do Hội đồng Chính phủ trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn.

Điều 5

Hội đồng Chính phủ có hai hình thức hội nghị: Hội nghị toàn thể và Hội nghị Thường vụ.

Hội nghị toàn thể của Hội đồng Chính phủ gồm toàn thể các thành viên của Hội đồng Chính phủ.

Hội nghị Thường vụ của Hội đồng Chính phủ gồm Thủ tướng Chính phủ, các Phó thủ tướng và Bộ trưởng Phủ Thủ tướng.

Những nghị quyết của Hội nghị Thường vụ của Hội đồng Chính phủ sẽ được báo cáo trước Hội nghị toàn thể của Hội đồng Chính phủ.

Các Thủ trưởng các cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ dự Hội nghị toàn thể của Hội đồng Chính phủ, nhưng không có quyền biểu quyết.

Khi cần thiết, ngoài thành phần nói trên, những người hữu quan có thể được mời dự hội nghị của Hội đồng Chính phủ, nhưng không có quyền biểu quyết.

Điều 6

Những nghị định, nghị quyết, quyết định, thông tư và chỉ thị của Hội đồng Chính phủ phải được Hội nghị toàn thể của Hội đồng Chính phủ hoặc Hội nghị Thường vụ của Hội đồng Chính phủ thông qua.

Điều 7

Thủ tướng Chính phủ lãnh đạo công tác của Hội đồng Chính phủ và thay mặt Hội đồng Chính phủ chỉ đạo công tác của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ và Uỷ ban hành chính các cấp.

Các Phó thủ tướng giúp Thủ tướng trong việc lãnh đạo chung và có thể được uỷ nhiệm thay Thủ tướng chỉ đạo từng khối công tác của Chính phủ.

Điều 8

Bộ máy làm việc của Hội đồng Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ là Phủ thủ tướng. Phủ Thủ tướng gồm có:

– Văn phòng Phủ Thủ tướng, đứng đầu là Bộ trưởng Phủ Thủ tướng có một hoặc nhiều Thứ trưởng giúp việc;

– Các Văn phòng nghiên cứu và theo dõi từng khối công tác của Chính phủ, đứng đầu là các Chủ nhiệm Văn phòng có một hoặc nhiều Phó chủ nhiệm giúp việc. Chủ nhiệm Văn phòng là một Bộ trưởng.

Điều 9

Mỗi Bộ có Bộ trưởng và một hoặc nhiều Thứ trưởng. Mỗi Uỷ ban Nhà nước có Chủ nhiệm, một hoặc nhiều Phó chủ nhiệm và một số uỷ viên.

Uỷ ban Thanh tra có Tổng thanh tra, một hoặc nhiều Phó tổng thanh tra và có thể có một số uỷ viên.

Ngân hàng Nhà nước có Tổng giám đốc và một hoặc nhiều Phó tổng giám đốc.

Điều 10

Bộ trưởng, Thủ tướng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ lãnh đạo toàn bộ công tác thuộc phạm vi trách nhiệm của mình và chịu trách nhiệm trước Hội đồng Chính phủ.

Quy định mới nhất Luật tổ chức Hội đồng Chính phủ Việt Nam năm 2019

Điều 11

Thứ trưởng các Bộ, Phó thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Phó thủ trưởng cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ trong việc lãnh đạo chung và có thể được uỷ nhiệm thay Bộ trưởng hoặc Thủ trưởng cơ quan chỉ đạo từng phần công tác của Bộ hoặc của cơ quan.

Điều 12

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa 14, sáng ngày 10/6, Quốc hội thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số …

Hội đồng Chính phủ bổ nhiệm và bãi miễn các nhân viên sau đây:

– Thủ trưởng các cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ;

– Thứ trưởng Phủ Thủ tướng, Thứ trưởng các Bộ, Phó chủ nhiệm các văn phòng Phủ Thủ tướng, Phó chủ nhiệm các Uỷ ban Nhà nước, Phó tổng thanh tra, Phó tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước;

– Phó Thủ trưởng các cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, Uỷ viên các Uỷ ban Nhà nước, Thủ trưởng và Phó thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc Phủ Thủ tướng, các Bộ và cơ quan ngang Bộ, Chánh văn phòng và Phó văn phòng các Bộ và cơ quan ngang Bộ;

– Những nhân viên giữ những chức vụ tương đương với các chức vụ nói trên.

Luật này đã được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá thứ II, kỳ họp thứ nhất, thông qua ngày 14 tháng 7 năm 20…

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

Nguyễn Thị Kim Ngân

Thông tin mới cụ thể nhất về Luật tổ chức Hội đồng Chính phủ Việt Nam vừa được chúng tôi cập nhật ở trên là điều kiện để người dân hiểu rõ về vai trò và nhiệm vụ chính của tổ chức Chính phủ trong công tác phục vụ đất nước, phục vụ Nhân dân. Hội đồng Chính phủ Việt Nam và những dự thảo Luật sửa đổi liên quan tới tổ chức này sẽ góp phần tăng cường, đẩy mạnh hoạt động của cơ quan Chính phủ. Từ đó, mỗi một cá nhân trong tổ chức đảm nhận ở những chức vụ, những vị trí khác nhau kịp thời xác định đúng hướng đi cho mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Đó là những điểm mới đáng lưu ý nhất của Luật về tổ chức Chính phủ năm nay. Phapluat360.com chúc các bạn xem tin vui!

Luật tổ chức Hội đồng Nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp sửa đổi mới nhất

Luật tổ chức Hội đồng Nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp sửa đổi mới nhất xin thông tin nhanh kịp thời tới các bạn đọc, để giúp mọi người hiểu hơn về từng hoạt động của cơ quan ban ngành Nhà nước có thẩm quyền là Hội đồng Nhân dân, là Ủy ban hành chính các cấp trung ương tới địa phương. Trong bộ luật của Quốc hội lần này cũng nhấn mạnh về nhiệm vụ quyền hạn của Hội đồng Nhân dân các cấp; nhiệm vụ quyền hạn của Ủy ban hành chính các cấp; quy định về tổ chức trong những trường hợp thay đổi cấp hoặc địa giới của các đơn vị hành chính. Nhìn chung, tất cả những quy định chung thuộc về Luật tổ chức Hội đồng Nhân dân và Luật tổ chức Ủy ban hành chính các cấp đều dựa trên ý kiến đồng tình tán thành của đại đa số đại biểu Quốc hội nên chắc chắn đây sẽ là một trong những dự thảo Luật tiến bộ đáng lưu tâm hiện nay.

Nào hãy cùng phapluat360.com chúng tôi cập nhật nhanh Luật tổ chức Hội đồng Nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp sửa đổi bổ sung mới nhất ngay sau đây nhé!

Cập nhật Luật tổ chức Hội đồng Nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp sửa đổi bổ sung mới nhất

LUẬT

TỔ CHỨC HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ UỶ BAN HÀNH CHÍNH CÁC CẤP

Căn cứ vào chương 7 của Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Luật này quy định tổ chức
Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp.

1. Chương I

NGUYÊN TẮC CƠ BẢN

Điều 1

Các đơn vị hành chính trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoà phân định như sau:

– Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, khu tự trị;

– Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã;

– Huyện chia thành xã, thị trấn.

Các khu tự trị chia thành tỉnh; tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã; huyện chia thành xã, thị trấn.

Các thành phố có thể chia thành khu phố ở trong thành và huyện ở ngoài thành.

Hiện nay khu Hồng quảng và khu Vĩnh Linh coi như tỉnh.

Các đơn vị hành chính kể trên đều có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính.

Điều 2

Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương do nhân dân địa phương bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương.

Số đại biểu Hội đồng nhân dân mỗi cấp và cách thức bầu cử Hội đồng nhân dân do Luật bầu cử quy định.

Điều 3

Uỷ ban hành chính do Hội đồng nhân dân bầu ra, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, đồng thời là cơ quan hành chính của Nhà nước ở địa phương.

Điều 4

Nhiệm kỳ của mỗi khoá Hội đồng nhân dân tỉnh, Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương, Hội đồng nhân dân khu tự trị là ba năm.

Nhiệm kỳ của mỗi khoá Hội đồng nhân dân các cấp khác là hai năm.

Nhiệm kỳ của Uỷ ban hành chính cấp nào theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cấp ấy. Khi Hội đồng nhân dân hết nhiệm kỳ hoặc bị giải tán, Uỷ ban hành chính tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Hội đồng nhân dân mới bầu ra Uỷ ban hành chính mới.

Điều 5

Uỷ ban hành chính cHịu trách nhiệm và báo cáo công tác với Hội đồng nhân dân cấp mình và với cơ quan hành chính Nhà nước cấp trên trực tiếp.

Uỷ ban hành chính ở một địa phương chịu sự lãnh đạo của Uỷ ban hành chính cấp trên và sự lãnh đạo thống nhất của Hội đồng chính phủ.

Điều 6

Hội đồng nhân dân có quyền sửa đổi hoặc bãi bỏ những quyết định không thích đáng của Uỷ ban hành chính cấp mình; có quyền sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết không thích đáng của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp và những quyết định không thích đáng của Uỷ ban hành chính cấp dưới trực tiếp.

Điều 7

Hội đồng nhân dân có quyền giải tán Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp khi Hội đồng nhân dân này gây thiệt hại đến quyền lợi của nhân dân một cách nghiêm trọng.

Nghị quyết giải tán của các Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, khu tự trị phải được Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn trước khi thi hành.

Nghị quyết giải tán của các Hội đồng nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã, phải được Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phê chuẩn trước khi thi hành.

Điều 8

Uỷ ban hành chính cấp trên có quyền đình chỉ việc thi hành những nghị quyết không thích đáng của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp và đề nghị Hội đồng nhân dân cấp mình sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết ấy.

Uỷ ban hành chính cấp trên có quyền sửa đổi hoặc bãi bỏ những quyết định không thích đáng của Uỷ ban hành chính cấp dưới.

2. Chương II

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP

Mục 1: NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP

Điều 9

Hội đồng nhân dân các cấp bảo đảm sự tôn trọng và chấp hành pháp luật của Nhà nước ở địa phương, duy trì trật tự an ninh và bảo vệ tài sản công cộng ở địa phương.

Điều 10

Trong phạm vi pháp luật đã quy định, Hội đồng nhân dân các cấp quyết định các vấn đề về kinh tế, văn hoá và xã hội của địa phương, phát huy mọi khả năng của địa phương nhằm thực hiện những nhiệm vụ chung của Nhà nước ở địa phương và nâng cao đời sống của nhân dân địa phương.

Điều 11

Hội đồng nhân dân các cấp bảo hộ quyền lợi của công dân ở địa phương và chăm lo việc công dân ở địa phương làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước.

Điều 12

Hội đồng nhân dân các cấp bảo đảm quyền bình đẳng của các dân tộc, giữ vững và tăng cường sự đoàn kết giữa các dân tộc.

Điều 13

Căn cứ vào pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên, Hội đồng nhân dân các cấp ra những nghị quyết thi hành ở địa phương.

Những nghị quyết về những vấn đề mà pháp luật quy định thuộc quyền phê chuẩn của cấp trên thì, trước khi thi hành, phải được cấp trên phê chuẩn.

Điều 14

Hội đồng nhân dân các cấp bầu ra Uỷ ban hành chính và Toà án nhân dân cấp mình và có quyền bãi miễn những thành viên của các cơ quan ấy.

Điều 15

Hội đồng nhân dân tỉnh và Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:

– Căn cứ vào kế hoạch của Nhà nước, quyết định kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá và những sự nghiệp lợi ích công cộng của tỉnh, thành phố và quyết định các chủ trương công tác khác, phát huy mọi khả năng của địa phương nhằm bảo đảm thực hiện những nhiệm vụ chung của Nhà nước ở địa phương và không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân địa phương;

– Xét duyệt dự toán và phê chuẩn quyết toán ngân sách của tỉnh, thành phố; quyết định các khoản thu cho ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật;

– Căn cứ vào pháp luật của Nhà nước, ra những quy định về trật tự trị an, về vệ sinh chung và những quy định về các vấn đề khác của tỉnh, thành phố.

Điều 16

Hội đồng nhân Dân huyện có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:

– Quyết định các chủ trương và biện pháp nhằm thực hiện nhiệm vụ và chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá trong huyện do tỉnh hoặc thành phố giao cho;

– Căn cứ vào điều kiện của huyện, quyết định việc xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá và xã hội của cấp huyện;

– Xét duyệt dự trù và quyết toán chi tiêu của cấp huyện;

– Căn cứ vào pháp luật của Nhà nước, ra những quy định về trật tự trị an, về vệ sinh chung của huyện.

Điều 17

Hội đồng nhân dân thành phố thuộc tỉnh và Hội đồng nhân dân thị xã có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:

– Căn cứ vào kế hoạch kinh tế và văn hoá của cấp trên, quyết định kế hoạch phát triển công nghiệp, thủ công nghiệp, nông nghiệp, văn hoá và những sự nghiệp lợi ích công cộng của thành phố, thị xã;

– Xét duyệt dự toán và phê chuẩn quyết toán ngân sách của thành phố, thị xã;

– Căn cứ vào pháp luật của Nhà nước, ra những quy định về trật tự trị an, về vệ sinh chung của thành phố, thị xã.

Luật tổ chức Hội đồng Nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp sửa đổi mới nhất

Điều 18

Hội đồng nhân dân khu phố có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:

– Quyết định các chủ trương và biện pháp nhằm thực hiện nhiệm vụ và chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá trong khu phố do thành phố giao cho;

– Căn cứ vào điều kiện của khu phố, quyết định việc xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá và xã hội của cấp khu phố;

– Xét duyệt dự trù và quyết toán chi tiêu của khu phố.

Điều 19

Hội đồng nhân dân xã và Hội đồng nhân dân thị trấn có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:

– Căn cứ vào kế hoạch kinh tế và văn hoá của cấp trên, quyết định kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá và những sự nghiệp lợi ích công cộng của xã, thị trấn;

– Xét duyệt dự toán và phê chuẩn quyết toán ngân sách của xã, thị trấn;

– Căn cứ vào pháp luật của Nhà nước, ra những quy định về trật tự trị an, về vệ sinh chung của xã, thị trấn. Những quy định này, trước khi thi hành, phải được Uỷ ban hành chính cấp trên trực tiếp phê chuẩn.

Mục 2: HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP TRONG KHU TỰ TRỊ

Điều 20

Hội đồng nhân dân khu tự trị có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:

– Bảo đảm sự tôn trọng và chấp hành pháp luật của Nhà nước ở địa phương; bảo đảm quyền bình đẳng của các dân tộc, giữ vững và tăng cường sự đoàn kết giữa các dân tộc; duy trì trật tự an ninh và bảo vệ tài sản công cộng, bảo hộ quyền lợi của công dân và chăm lo việc công dân làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước;

– Căn cứ vào kế hoạch của Nhà nước và đặc điểm tình hình trong khu tự trị, quyết định phương hướng và nhiệm vụ phát triển kinh tế trong khu tự trị; quyết định kế hoạch phát triển văn hoá dân tộc và đào tạo cán bộ dân tộc trong khu tự trị;

– Quyết định kế hoạch xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá và xã hội của cấp khu;

– Xét duyệt dự trù và quyết toán chi tiêu của cấp khu;

– Căn cứ vào pháp luật của Nhà nước và chiếu theo những đặc điểm về chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội của các dân tộc ở địa phương, đặt ra điều lệ tự trị và những điều lệ về những vấn đề riêng biệt để thi hành ở địa phương sau khi đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn;

– Bầu ra Uỷ ban hành chính và Toà án nhân dân khu tự trị và bãi miễn những thành viên của các cơ quan ấy.

Điều 21

Hội đồng nhân dân tỉnh, huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã, khu phố, xã, thị trấn trong khu tự trị có những nhiệm vụ và quyền hạn như các Hội đồng nhân dân cấp tương đương quy định ở các điều trong mục 1 của chương này.

Mục 3: HỘI NGHỊ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN

Điều 22

Hội nghị Hội đồng nhân dân cấp nào do Uỷ ban hành chính cấp ấy triệu tập.

Kỳ họp thứ nhất của mỗi khoá Hội đồng nhân dân do Uỷ ban hành chính khoá trước triệu tập chậm nhất là bốn mươi nhăm ngày sau ngày bầu cử xong đại biểu Hội đồng nhân dân mới.

Điều 23

Các Hội đồng nhân dân thành phố thuộc tỉnh, thị xã, khu phố, xã,

thị trấn ba tháng họp một kỳ.

Các Hội đồng nhân dân khu vực tự trị, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện sáu tháng họp một kỳ.

Uỷ ban hành chính các cấp triệu tập hội nghị bất thường của Hội đồng nhân dân cấp mình khi xét thấy cần thiết hoặc khi có ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình yêu cầu.

Điều 24

Hội đồng nhân dân họp công khai.

Ngày họp, nơi họp và chương trình làm việc của hội nghị Hội đồng nhân dân phải được công bố trước để nhân dân biết.

Trong trường hợp đặc biệt, Hội đồng nhân dân có thể họp kín theo đề nghị của đoàn Chủ tịch hội nghị hoặc của Uỷ ban hành chính.

Điều 25

Khi Hội đồng nhân dân họp, những người không phải là đại biểu Hội đồng nhân dân có thể được mời tới dự hội nghị và có thể phát biểu ý kiến, nhưng không có quyền biểu quyết.

Điều 26

Mỗi kỳ họp, Hội đồng nhân dân bầu ra đoàn Chủ tịch và đoàn thư ký của kỳ họp.

Điều 27

Các nghị quyết của Hội đồng nhân dân phải được quá nửa tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành.

Hội đồng nhân dân biểu quyết bằng cách giơ tay hoặc bỏ phiếu kín.

Mục 4: CÁC BAN HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN

Điều 28

Tuỳ theo nhu cầu công tác, Hội đồng nhân dân có thể thành lập các ban của Hội đồng nhân dân.

Điều 29

Trong phạm vi công tác của mình, các ban của Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ giúp Hội đồng nhân dân tìm hiểu ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, góp ý kiến với Hội đồng nhân dân trong việc xây dựng và thực hiện những chủ trương công tác ở địa phương.

Điều 30

Thành viên của các ban do Hội đồng nhân dân cử trong Hội đồng nhân dân và, khi cần, có thể cử thêm người ngoài Hội đồng nhân dân.

Trong khi làm công việc do ban giao cho, các thành viên của các ban không thoát ly sản xuất hoặc công tác chuyên môn của mình.

Mục 5: ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN

Điều 31

Đại biểu Hội đồng nhân dân phải trung thành với chế độ dân chủ nhân dân, gương mẫu tuân theo Hiến pháp và pháp luật, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân.

Điều 32

Đại biểu Hội đồng nhân dân phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân.

Đại biểu Hội đồng nhân dân động viên nhân dân chấp hành những nghị quyết và quyết định của Hội đồng nhân dân, của Uỷ ban hành chính địa phương và của các cơ quan nhà nước cấp trên.

Từng thời kỳ một, Đại biểu Hội đồng nhân dân phải báo cáo với cử tri về hoạt động của Hội đồng nhân dân.

Điều 33

Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Uỷ ban hành chính và các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban hành chính.

Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền dự các kỳ họp của Hội đồng nhân dân cấp dưới thuộc đơn vị đã bầu ra mình, có quyền phát biểu ý kiến, nhưng không có quyền biểu quyết.

Điều 34

Trong thời gian Hội đồng nhân dân họp, nếu không có sự đồng ý của đoàn Chủ tịch hội nghị thì không được bắt giam hoặc truy tố đại biểu Hội đồng nhân dân. Trong trường hợp phạm pháp quả tang hoặc trong trường hợp khẩn cấp, cơ quan có trách nhiệm, khi tạm giữ một đại biểu, phải lập tức báo cáo với đoàn Chủ tịch hội nghị.

Điều 35

Đại biểu Hội đồng nhân dân có thể bị cử tri bãi miễn nếu không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân.

Việc đưa một đại biểu Hội đồng nhân dân ra để cử tri biểu quyết bãi miễn do Hội đồng nhân dân quyết định.

Việc bỏ phiếu biểu quyết bãi miễn đại biểu được tiến hành theo cách thức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

Điều 36

Đại biểu Hội đồng nhân dân nào phạm pháp và bị Toà án phạt tù thì đương nhiên mất quyền đại biểu Hội đồng nhân dân.

Điều 37

Đại biểu Hội đồng nhân dân có thể xin từ chức vì lý do không thể đảm nhiệm được nhiệm vụ đại biểu Hội đồng nhân dân.

Việc xin từ chức của đại biểu Hội đồng nhân dân do Hội đồng nhân dân xét định.

Điều 38

Trong nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân, khi khuyết đại biểu thì có thể tổ chức bầu cử bổ sung.

Hội đồng Chính phủ quyết định việc bầu cử bổ sung đại biểu của các Hội đồng nhân dân khu tự trị, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Uỷ ban hành chính tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương quyết định việc bầu cử bổ sung đại biểu của các Hội đồng nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã, khu phố, xã, thị trấn.

Điều 39

Khi đi họp và trong thời gian hội nghị Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân được hưởng cấp phí đi đường và chế độ phụ cấp do Hội đồng Chính phủ quy định. Nếu đại biểu Hội đồng nhân dân là người ăn lương Nhà nước, thì vẫn được hưởng lương của mình và cấp phí đi đường nhưng không hưởng phụ cấp nói trên.

3. Chương III

UỶ BAN HÀNH CHÍNH CÁC CẤP

Mục 1: NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN

Điều 40

Uỷ ban hành chính các cấp quản lý công tác hành chính của địa phương; chấp hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp mình và nghị quyết, nghị định, quyết định, thông tư, chỉ thị của cơ quan Nhà nước cấp trên.

Điều 41

Uỷ ban hành chính các cấp có nhiệm vụ triệu tập hội nghị Hội đồng nhân dân cấp mình đúng kỳ hạn, chuẩn bị hội nghị Hội đồng nhân dân, đưa ra Hội đồng nhân dân thảo luận và quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương.

Luật tổ chức Hội đồng Nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp sửa đổi mới nhất

Điều 42

Uỷ ban hành chính các cấp lãnh đạo công tác của các ngành thuộc quyền mình và của các Uỷ ban hành chính cấp dưới.

Điều 43

Uỷ ban hành chính các cấp có quyền ra những quyết định và chỉ thị theo quy định của pháp luật và kiểm tra việc thi hành những quyết định và chỉ thị ấy.

Uỷ ban hành chính các cấp xét và giải quyết nhanh chóng những việc khiếu nại và tố cáo của công dân.

Điều 44

Uỷ ban hành chính tỉnh và Uỷ ban hành chính thành phố trực thuộc trung ương có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:

– Chấp hành kế hoạch kinh tế, văn hoá và ngân sách của tỉnh, thành phố;

– Quản lý công nghiệp địa phương; lãnh đạo việc củng cố và phát triển các hợp tác xã thủ công nghiệp và lãnh đạo việc phát triển sản xuất thủ công nghiệp;

– Quản lý công tác xây dựng cơ bản;

– Lãnh đạo việc củng cố và phát triển các hợp tác xã nông nghiệp và lãnh đạo việc phát triển sản xuất nông nghiệp;

– Quản lý công tác thuỷ lợi;

– Quản lý công tác lâm nghiệp;

– Quản lý công tác giao thông, vận tải và công tác bưu điện và truyền thanh;

– Quản lý công tác thương nghiệp, công tác thu mua và quản lý thị trường;

– Quản lý công tác thu thuế và các khoản thu khác của Nhà nước ở địa phương;

– Lãnh đạo việc thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch của ngân hàng; lãnh đạo việc củng cố và phát triển các hợp tác xã vay mượn, quỹ tiết kiệm, quỹ tín dụng;

– Quản lý nhà, đất và tài sản công cộng;

– Quản lý công tác văn hoá, giáo dục, y tế, vệ sinh, thể dục thể thao;

– Quản lý các sự nghiệp lợi ích công cộng;

– Quản lý công tác lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội, cứu tế xã hội;

– Giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ tài sản công cộng, xây dựng lực lượng hậu bị, dân quân, tự vệ và thi hành các công tác quân sự khác;

– Quản lý tổ chức, biên chế và cán bộ;

– Tham gia quản lý các xí nghiệp, sự nghiệp của trung ương ở địa phương; cung cấp nhân lực, lương thực, thực phẩm và bảo đảm trật tự an ninh cho các xí nghiệp, sự nghiệp ấy;

– Quản lý công tác khác do Hội đồng Chính phủ giao cho.

Điều 45

Uỷ ban hành chính huyện có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:

– Hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các xã, thị trấn xây dựng và chấp hành kế hoạch kinh tế, văn hoá và ngân sách của xã, thị trấn;

– Lãnh đạo các xã, thị trấn củng cố và phát triển các hợp tác xã, phát triển sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp và các ngành nghề khác;

– Lãnh đạo các xã phát triển các công trình thuỷ lợi, giao thông, vận tải và các sự nghiệp giáo dục, văn hoá, xã hội có tính chất liên xã;

– Thu thuế công thương nghiệp; chỉ đạo các xã, thị trấn thu thuế, thu nợ, thu mua;

– Quản lý tài chính của cấp huyện;

– Kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch của ngân hàng; lãnh đạo việc củng cố và phát triển các hợp tác xã vay mượn, quỹ tín dụng;

– Quản lý công tác văn hoá, giáo dục, y tế, thể dục thể thao; quản lý công tác bưu điện và truyền thanh;

– Quản lý các xí nghiệp, trường phổ thông, bệnh xá, sự nghiệp lợi ích công cộng của huyện;

– Giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ tài sản công cộng; xây dựng lực lượng hậu bị, dân quân, tự vệ và thi hành các công tác quân sự khác;

– Quản lý tổ chức, biên chế và cán bộ;

– Quản lý các công tác khác do cấp trên giao cho.

Điều 46

Uỷ ban hành chính thành phố thuộc tỉnh và Uỷ ban hành chính thị xã có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:

– Chấp hành kế hoạch kinh tế, văn hoá và ngân sách của thành phố, thị xã;

– Lãnh đạo việc củng cố và phát triển các hợp tác xã thủ công nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp, củng cố các tổ chức hợp tác của tiểu thương và của các ngành nghề khác;

– Quản lý công tác giao thông, vận tải và công tác bưu điện và truyền thanh;

– Quản lý nhà, đất và tài sản công cộng;

– Thu thuế và các khoản thu khác của Nhà nước;

– Đôn đốc việc thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch của ngân hàng; lãnh đạo việc củng cố và phát triển các hợp tác xã vay mượn, quỹ tiết kiệm;

– Thu mua cho Nhà nước và quản lý các chợ;

– Quản lý công tác văn hoá, giáo dục, y tế, vệ sinh, thể dục, thể thao;

– Quản lý các trường phổ thông, lớp mẫu giáo, lớp vỡ lòng, nhà giữ trẻ, vườn trẻ, các bệnh viện, bệnh xá, sự nghiệp lợi ích công cộng và xí nghiệp của thành phố, thị xã;

– Quản lý lao động, tiền lương; Quản lý công tác bảo hiểm xã hội, cứu tế và xã hội;

– Quản lý công tác hộ tịch;

– Giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ tài sản công cộng; xây dựng lực lượng hậu bị, dân quân, tự vệ và thi hành các công tác quân sự khác;

– Quản lý tổ chức, biên chế và cán bộ;

– Quản lý các công tác khác do cấp trên giao cho.

Điều 47

Uỷ ban hành chính khu phố có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:

– Lãnh đạo việc củng cố và phát triển các hợp tác xã thủ công nghiệp, củng cố các tổ chức hợp tác của tiểu thương và của các ngành nghề khác;

– Thu thuế và các khoản thu khác của Nhà nước; quản lý các chợ;

– Quản lý nhà, đất và tài sản công cộng;

– Quản lý tài chính của khu phố;

– Đôn đốc việc thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch của ngân hàng; lãnh đạo việc củng cố và phát triển quỹ tiết kiệm;

– Quản lý các trường phổ thông, lớp mẫu giáo, lớp vỡ lòng, nhà giữ trẻ, vườn trẻ, phòng khám bệnh, bệnh xá, nhà hộ sinh và các cơ sở văn hoá của khu phố;

– Quản lý lao động, tiền lương; quản lý công tác bảo hiểm xã hội, cứu tế và xã hội;

– Quản lý công tác hộ tịch;

– Giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ tài sản công cộng; xây dựng lực lượng hậu bị, dân quân, tự vệ và thi hành các công tác quân sự khác;

– Quản lý tổ chức, biên chế và cán bộ;

– Quản lý các công tác khác do cấp trên giao cho.

Điều 48

Uỷ ban hành chính xã và Uỷ ban hành chính thị trấn có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:

– Chấp hành kế hoạch kinh tế, văn hoá và ngân sách của xã, thị trấn;

– Giúp các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp và các hợp tác xã khác xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất; đôn đốc giám sát các hợp tác xã và công dân thực hiện mọi nghĩa vụ đối với Nhà nước; đình chỉ việc thi hành những nghị quyết trái pháp luật của hợp tác xã, nhưng phải báo ngay lên cấp trên trực tiếp để quyết định;

– Quản lý hệ thống tiểu thuỷ nông, các đường giao thông của xã; quản lý công tác bưu điện và truyền thanh;

– Thu thuế, thu nợ, thu mua cho Nhà nước; quản lý chợ, bến đò;

– Đôn đốc việc thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch của ngân hàng; lãnh đạo việc củng cố và phát triển các hợp tác xã vay mượn, quỹ tín dụng;

– Quản lý tài sản công cộng;

– Xây dựng trường phổ thông; quản lý các lớp mẫu giáo, lớp vỡ lòng; lãnh đạo việc phát triển các nhà giữ trẻ, vườn trẻ;

– Quản lý các trạm y tế, nhà hộ sinh và các sự nghiệp lợi ích công cộng; quản lý công tác văn hoá, thông tin, thể dục thể thao;

– Quản lý lao động và công tác cứu tế và xã hội;

– Quản lý công tác hộ tịch;

– Giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ tài sản công cộng; xây dựng lực lượng hậu bị, dân quân, tự vệ và thi hành các công tác quân sự khác;

– Quản lý các công tác khác do cấp trên giao cho.

Mục 2: UỶ BAN HÀNH CHÍNH CÁC CẤP TRONG KHU TỰ TRỊ

Điều 49

Uỷ ban hành chính khu tự trị có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:

– Lãnh đạo các tỉnh trong khu tự trị thực hiện chính sách dân tộc, phát huy mọi khả năng của các dân tộc nhằm làm cho khu tự trị phát triển về mọi mặt;

– Hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các Uỷ ban hành chính tỉnh trong khu tự trị xây dựng và chấp hành kế hoạch kinh tế và văn hoá, xây dựng và chấp hành ngân sách;

– Quản lý công tác văn hoá dân tộc; đào tạo cán bộ các dân tộc;

– Quản lý các cơ sở kinh tế, văn hoá và xã hôi của cấp khu;

– Quản lý tài chính của cấp khu;

– Lãnh đạo công tác giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ tài sản công cộng; lãnh đạo công tác tổ chức các lực lượng hậu bị, dân quân, tự vệ của địa phương;

– Chấp hành điều lệ tự trị và những điều lệ về những vấn đề riêng biệt của khu tự trị;

– Quản lý các công tác khác do Hội đồng Chính phủ giao cho.

Điều 50

Các Uỷ ban hành chính tỉnh, huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã, khu phố, xã, thị trấn trong khu tự trị có nhiệm vụ và quyền hạn như Uỷ ban hành chính cấp tương đương quy định ở các điều trong mục 1 của chương này.

Mục 3: TỔ CHỨC VÀ CHẾ ĐỘ LÀM VIỆC CỦA UỶ BAN HÀNH CHÍNH

Điều 51

Trong kỳ họp đầu tiên, Hội đồng nhân dân bầu ra Chủ tịch, một hoặc nhiều Phó Chủ tịch, uỷ viên thư ký và các uỷ viên khác của Uỷ ban hành chính.

Thành viên Uỷ ban hành chính phải là đại biểu Hội đồng nhân dân.

Các Uỷ ban hành chính xã, thị trấn có từ năm đến bảy người. ở các xã miền núi có nhiều dân tộc ở xen kẽ thì Uỷ ban hành chính có từ năm đến chín người.

Các Uỷ ban hành chính huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, khu phố có từ bảy đến chín người. ở các huyện miền có nhiều dân tộc ở xen kẽ thì Uỷ ban hành chính có từ bảy đến mười một người.

Các Uỷ ban hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có từ chín đến mười lăm người.

Uỷ ban hành chính khu tự trị có từ chín đến mười bảy người.

Trong nhiệm kỳ của uỷ ban hành chính, khi khuyết thành viên của Uỷ ban hành chính thì Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu bổ sung.

Điều 52

Hội đồng Chính phủ, Uỷ ban hành chính cấp trên trực tiếp có quyền đình chỉ công tác của thành viên Uỷ ban hành chính phạm lỗi. Uỷ ban hành chính có thành viên phạm lỗi sẽ đưa việc phạm lỗi của thành viên đó ra Hội đồng nhân dân cùng cấp xét định.

Điều 53

Uỷ ban hành chính các cấp làm việc theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo, phân công phụ trách.

Mỗi thành viên của Uỷ ban hành chính chịu trách nhiệm chung về công tác của Uỷ ban hành chính và chịu trách nhiệm riêng về phần công tác của mình.

Chủ tịch Uỷ ban hành chính lãnh đạo công tác của Uỷ ban hành chính, triệu tập và chủ toạ các cuộc họp của Uỷ ban hành chính; bảo đảm việc chấp hành các nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp mình, các nghị quyết, nghị định, quyết định, thông tư và chỉ thị của Uỷ ban hành chính và của cơ quan Nhà nước cấp trên.

Phó chủ tịch giúp Chủ tịch lãnh đạo công tác của uỷ ban hành chính, có thể được Uỷ ban hành chính phân công chỉ đạo từng khối công tác của Uỷ ban hành chính và uỷ nhiệm thay Chủ tịch khi Chủ tịch vắng mặt.

Uỷ viên thư ký lãnh đạo văn phòng của uỷ ban hành chính, giải quyết công việc hàng ngày của Uỷ ban hành chính dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch và các Phó chủ tịch.

Chủ tịch, các Phó chủ tịch, uỷ viên thư ký họp thành bộ phận thường trực của Uỷ ban hành chính.

Điều 54

Uỷ ban hành chính các cấp mỗi tháng họp ít nhất một lần.

Điều 55

Uỷ ban hành chính các cấp thành lập hoặc bãi bỏ các cơ quan chuyên môn, thành lập hoặc bãi bỏ các bộ phận chuyên môn thuộc Uỷ ban hành chính, theo nguyên tắc và thủ tục do Hội đồng Chính phủ quy định.

Điều 56

Các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban hành chính chịu sự lãnh đạo của Uỷ ban hành chính, đồng thời chịu sự chỉ đạo về kỹ thuật và nhiệm vụ của cơ quan chuyên môn cấp trên.

Thủ trưởng cơ quan chuyên môn chịu trách nhiệm và báo cáo công tác với cơ quan hành chính cấp mình và với cơ quan chuyên môn cấp trên.

Luật tổ chức Hội đồng Nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp sửa đổi mới nhất

4. Chương IV

QUY ĐỊNH VỀ TỔ CHỨC TRONG NHỮNG TRƯỜNG HỢP THAY ĐỔI CẤP HOẶC ĐỊA GIỚI CỦA CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH

Điều 57

Trong trường hợp nhập hai hoặc nhiều đơn vị hành chính thành một đơn vị hành chính mới, các Hội đồng nhân dân của các đơn vị hành chính cũ nhập lại thành Hội đồng nhân dân của đơn vị hành chính mới và hoạt động cho đến khi hết nhiệm kỳ của các Hội đồng nhân dân cũ.

Hội đồng nhân dân của đơn vị hành chính mới bầu ra Uỷ ban hành chính mới.

Điều 58

Trong trường hợp chia một đơn vị hành chính thành hai hoặc nhiều đơn vị hành chính mới, các đại biểu Hội đồng nhân dân đã được bầu trong địa hạt đơn vị hành chính mới nào thì hợp thành Hội đồng nhân dân của đơn vị hành chính ấy, và tiếp tục hoạt động cho đến khi hết nhiệm kỳ. Nếu cần bầu thêm đại biểu mới thì phải làm theo quy định của Điều 38 của Luật này.

Hội đồng nhân dân của đơn vị hành chính mới bầu ra Uỷ ban hành chính mới.

Điều 59

Trong trường hợp một đơn vị hành chính thay đổi cấp, thì Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính tiếp tục hoạt động với cương vị của cấp mới cho đến khi hết nhiệm kỳ.

Điều 60

Luật số 110-SL/L.12 ngày 31-5-20…về tổ chức chính quyền địa phương và những quy định khác ban hành trước đây trái với Luật này đều bãi bỏ.

Luật này đã được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, khoá II, kỳ họp thứ 5, nhất trí thông qua ngày 27 tháng 10 năm 20…

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

Nguyễn Thị Kim Ngân

Chúng tôi vừa cập nhanh cho bạn tham khảo Luật về tổ chức Hội đồng Nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp, tin tưởng rằng, khi dự thảo sửa đổi, bãi bỏ một số điều chưa hợp lý này sẽ nhận được hưởng ứng tích cực từ tất cả mọi người. Luật tổ chức Hội đồng Nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp được nhận định là một trong những bộ luật quan trọng của Quốc hội thông qua nên sẽ sớm đưa vào triển khai cụ thể vào năm 2019. Bạn quan tâm và muốn biết thêm về chức năng, quyền hạn của cán bộ trực thuộc Hội đồng Nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp thì nhất định đừng bỏ qua thông tin chuẩn chính xác này nhé. Phapluat360.com chúc các bạn xem tin vui!

Cập nhật Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng sửa đổi chi tiết nhất

Cập nhật Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng sửa đổi chi tiết nhất được đề xuất kì này sẽ xác định rõ về trách nhiệm, nhiệm vụ quyền hạn của Hội đồng Bộ trưởng; quy định về các chế độ làm việc và quan hệ công tác của Hội đồng Bộ trưởng; nhiệm vụ, quyền hạn, quan hệ công tác của Bộ trưởng, chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước. Luật về tổ chức Hội đồng Bộ trưởng đề ra cũng giúp người dân nắm rõ được tất tần tật mọi hoạt động của cơ quan ban ngành Nhà nước mà cụ thể ở đây là Hội đồng Bộ trưởng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Kèm theo những danh mục vừa chỉ điểm này sẽ là những điều khoản bắt buộc các cán bộ, tập thể cán bộ trong Hội đồng Bộ trưởng phải thi hành nghiêm chỉnh, xứng đáng với chức vụ, với trọng trách hiện tại mà Đảng và Nhà nước giao phó.

Hãy cùng phapluat360.com chúng tôi cập nhật nhanh Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng chi tiết sửa đổi ngay bây giờ nhé!

Cập nhật mới nhất Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng sửa đổi theo quy định của Quốc hội

QUỐC HỘI
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********

Số: 2-LCT/HĐNN7

Hà Nội, ngày 04 tháng 7 năm 20…

 LUẬT

TỔ CHỨC HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Căn cứ vào Chương VIII của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật này quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Bộ trưởng.

1. Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1

Hội đồng bộ trưởng là Chính phủ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cơ quan chấp hành và hành chính Nhà nước cao nhất của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất.

Hội đồng bộ trưởng thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của Nhà nước, tăng cường hiệu lực của bộ máy Nhà nước từ trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành pháp luật; phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân; bảo đảm xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân.

Điều 2

Hội đồng bộ trưởng do Quốc hội bầu ra tại kỳ họp thứ nhất của mỗi khoá Quốc hội.

Hội đồng bộ trưởng gồm có:

– Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng;

– Các Phó Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng;

– Các Bộ trưởng và Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước.

Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng là đại biểu Quốc hội; các thành viên khác của Hội đồng bộ trưởng chủ yếu chọn trong số các đại biểu Quốc hội.

Điều 3

Nhiệm kỳ của Hội đồng bộ trưởng theo nhiệm kỳ của Quốc hội.

Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Hội đồng bộ trưởng tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khoá mới bầu ra Hội đồng bộ trưởng mới.

Điều 4

Hội đồng bộ trưởng chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng Nhà nước.

Điều 5

Hội đồng bộ trưởng tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện sự lãnh đạo tập trung, thống nhất, đồng thời phát huy tính chủ động của các Bộ, các Uỷ ban Nhà nước và các cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng.

Hội đồng bộ trưởng quyết định tập thể các vấn đề thuộc thẩm quyền của mình, đồng thời đề cao trách nhiệm cá nhân của mỗi thành viên Hội đồng bộ trưởng về phần công tác được giao và phần tham gia vào công việc chung của Hội đồng bộ trưởng.

Điều 6

Hội đồng bộ trưởng quản lý các mặt công tác theo Hiến pháp và pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa; ngăn ngừa, khắc phục tệ quan liêu và các biểu hiện tiêu cực khác trong các cơ quan Nhà nước và nhân viên Nhà nước.

Khi thực hiện nhiệm vụ của mình, Hội đồng bộ trưởng dựa vào Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân.

2. Chương II

NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG

Điều 7

Hội đồng bộ trưởng kết hợp các biện pháp hành chính, kinh tế, tổ chức và giáo dục để thực hiện những nhiệm vụ và sử dụng những quyền hạn được quy định ở Điều 107 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Cập nhật Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng sửa đổi chi tiết nhất

Điều 8

Về kinh tế, Hội đồng bộ trưởng:

1- Lãnh đạo và quản lý nền kinh tế quốc dân theo quy hoạch và kế hoạch thống nhất trong cả nước; chỉ đạo việc xây dựng từng bước cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, xây dựng cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp hiện đại; kết hợp kinh tế với quốc phòng; xoá bỏ từng bước sự chênh lệch giữa các dân tộc và các vùng về trình độ phát triển kinh tế; bảo đảm cho nền kinh tế phát triển toàn diện, cân đối, vững chắc, có hiệu quả ngày càng cao;

2- Chuẩn bị các dự án kế hoạch dài hạn, kế hoạch 5 năm, kế hoạch hàng năm và dự toán ngân sách Nhà nước hàng năm trình Quốc hội quyết định; tổ chức thực hiện và bảo đảm hoàn thành các kế hoạch và ngân sách đó;

3- Củng cố và phát triển thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa; cải tạo và sử dụng các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, kết hợp việc hoàn thiện và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa với phát triển lực lượng sản xuất;

4- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống quản lý kinh tế theo nguyên tắc tập trung dân chủ và nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ; thực hành chế độ hạch toán kinh tế và chế độ tiết kiệm;

5- Quyết định những chính sách, chế độ, biện pháp hướng các ngành, các cấp khai thác và sử dụng hợp lý mọi tiềm lực của đất nước, trước hết là phân bố và sử dụng hợp lý lực lượng lao động xã hội;

6- Thi hành chính sách bảo vệ, cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và cải thiện môi trường sống;

7- Thống nhất quản lý tài chính, tiền tệ, tín dụng, thị trường và giá cả;

8- Thống nhất quản lý mọi quan hệ kinh tế với nước ngoài; thực hiện chế độ Nhà nước độc quyền ngoại thương và chính sách khuyến khích xuất khẩu;

9- Tổ chức và lãnh đạo các công tác kiểm kê, thống kê, kế toán,

bảo hiểm Nhà nước và trọng tài Nhà nước về kinh tế;

10- Thống nhất quản lý các công tác tiêu chuẩn hoá, định mức, đo lường.

Điều 9

Về khoa học và kỹ thuật, Hội đồng bộ trưởng:

1- Thống nhất quản lý việc thực hiện đường lối, chính sách và kế hoạch phát triển khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật; thi hành mọi biện pháp khuyến khích nghiên cứu, phát minh, sáng kiến;

2- Chỉ đạo ứng dụng các tiến bộ khoa học và kỹ thuật vào công cuộc phát triển kinh tế, văn hoá, củng cố quốc phòng và phục vụ đời sống nhân dân;

3- Xây dựng công tác thông tin khoa học và dự báo về phát triển khoa học, kỹ thuật.

Điều 10

Về văn hoá, thông tin và giáo dục, Hội đồng bộ trưởng:

1- Xây dựng và phát triển nền văn hoá mới có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc, có tính đảng và tính nhân dân; bảo đảm sự phát triển đồng đều về văn hoá giữa các dân tộc và các vùng của đất nước; tạo điều kiện để nhân dân tham gia sinh hoạt văn hoá, văn nghệ, đấu tranh chống những biểu hiện không lành mạnh trong đời sống văn hoá; bảo vệ và phát triển những giá trị văn hoá và tinh thần của dân tộc;

2- Xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa;

3- Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng;

4- Hoàn thiện hệ thống giáo dục xã hội chủ nghĩa, thực hiện cải cách giáo dục;

5- Phát triển và không ngừng nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng và nghệ thuật của công tác thông tin, báo chí, văn nghệ, xuất bản, thư viện, phát thanh, truyền hình, điện ảnh; chú trọng công tác bảo tồn, bảo tàng;

6- Phát triển phong trào thể dục, thể thao và khuyến khích du lịch.

Điều 11

Về đời sống, y tế, xã hội, Hội đồng bộ trưởng:

VOATIENGVIET Tin tức: http://www.youtube.com/VOATiengVietVideo, …

1- Chăm lo cải thiện đời sống của nhân dân;

2- Từng bước bảo đảm việc làm, không ngừng cải thiện điều kiện làm việc, sinh hoạt của người lao động, thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động, mở mang sự nghiệp phúc lợi công cộng;

3- Phát triển và hoàn thiện hệ thống bảo vệ sức khoẻ của nhân dân trên cơ sở kết hợp y học, dược học hiện đại với y học, dược học cổ truyền của dân c tộ;

4- Có chính sách lao động phù hợp với điều kiện của phụ nữ; bảo vệ bà mẹ và trẻ em; vận động sinh đẻ có kế hoạch, bảo đảm phát triển dân số một cách hợp lý;

5- Chăm sóc và giúp đỡ thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, những người và gia đình có công với cách mạng;

6- Thi hành chính sách bảo hiểm xã hội và cứu tế xã hội.

Điều 12

Về quốc phòng, Hội đồng bộ trưởng:

1- Tổ chức quốc phòng toàn dân và xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân;

2- Chỉ đạo và kiểm tra việc thi hành chế độ nghĩa vụ quân sự và các chế độ, chính sách khác về củng cố quốc phòng và tăng cường các lực lượng vũ trang nhân dân;

3- Chăm lo đời sống của cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân;

4- Tổ chức thực hiện việc động viên, giới nghiêm và mọi biện pháp cần thiết khác để bảo vệ Tổ quốc.

Điều 13

Về trật tự, an ninh, Hội đồng bộ trưởng:

1- Thi hành các biện pháp cần thiết bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội; xây dựng lực lượng công an nhân dân vững mạnh;

2- Chỉ đạo và kiểm tra các Bộ, Uỷ ban Nhà nước, cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng, Uỷ ban nhân dân các cấp và các tổ chức xã hội phòng ngừa và đấu tranh chống những hoạt động phản cách mạng và những tội phạm khác.

Điều 14

Về đối ngoại, Hội đồng bộ trưởng:

1- Tổ chức, quản lý và phối hợp các mặt công tác đối ngoại của Nhà nước;

2- Xác định phương hướng về hợp tác kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hoá và các mặt khác với các nước xã hội chủ nghĩa anh em, các nước khác và các tổ chức quốc tế;

3- Tổ chức việc đàm phán, ký kết và chỉ đạo thực hiện các điều ước quốc tế.

Điều 15

Về pháp chế xã hội chủ nghĩa, Hội đồng bộ trưởng:

1- Bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trong các cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế, xã hội, các lực lượng vũ trang, trong cán bộ và nhân dân;

2- Bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa; bảo vệ tính mạng, danh dự,

nhân phẩm và các quyền lợi chính đáng khác của công dân;

3- Trình các dự án luật trước Quốc hội và các dự án pháp lệnh trước Hội đồng Nhà nước; ban hành các văn bản pháp quy để thi hành các luật, pháp lệnh và nghị quyết của Quốc hội và Hội đồng Nhà nước;

4- Tổ chức và lãnh đạo công tác tuyên truyền, giáo dục Hiến pháp và pháp luật trong cán bộ, các lực lượng vũ trang và nhân dân;

5- Tổ chức và lãnh đạo công tác thanh tra và kiểm tra của Nhà nước, kết hợp với hoạt động thanh tra và kiểm tra của nhân dân;

6- Quản lý công tác hành chính tư pháp, đào tạo cán bộ pháp lý,

xây dựng và phát triển khoa học pháp lý.

Điều 16

Về tổ chức và cán bộ, Hội đồng bộ trưởng:

1- Trình Quốc hội quyết định việc thành lập hoặc bãi bỏ các Bộ, các Uỷ ban Nhà nước và thay đổi các thành viên Hội đồng bộ trưởng; giữa hai kỳ họp Quốc hội thì trình Hội đồng Nhà nước quyết định;

2- Trình Hội đồng Nhà nước phê chuẩn việc thành lập hoặc bãi bỏ các cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng;

3- Quy định tổ chức và hoạt động của các Bộ, Uỷ ban Nhà nước, cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng và Uỷ ban nhân dân các cấp; chỉ đạo việc xây dựng, kiện toàn và phát huy hiệu lực bộ máy quản lý Nhà nước từ trung ương đến cơ sở;

4- Quyết định việc phân vạch địa giới các đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương;

5- Xây dựng danh mục và tiêu chuẩn cán bộ, nhân viên Nhà nước; có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp và sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ của Nhà nước và chỉ đạo các ngành, các cấp xây dựng và thực hiện kế hoạch đó; chú trọng đào tạo cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số và cán bộ địa phương;

6- Thực hiện chế độ khen thưởng và kỷ luật đối với cán bộ, nhân viên Nhà nước.

3. Chương III

CHẾ ĐỘ LÀM VIỆC VÀ QUAN HỆ CÔNG TÁC CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG

Điều 17

Hội đồng bộ trưởng sinh hoạt định kỳ theo Điều lệ công tác của Hội đồng bộ trưởng.

Trong các phiên họp, Hội đồng bộ trưởng thảo luận và giải quyết các vấn đề cơ bản như sau:

1- Quyết định các chính sách và biện pháp lớn để thực hiện các nhiệm vụ quy định ở Chương VIII của Hiến pháp và ở Chương II của Luật này;

2- Lập các quy hoạch, dự án kế hoạch Nhà nước dài hạn, kế hoạch 5 năm và kế hoạch hàng năm;

3- Lập dự toán ngân sách Nhà nước và quyết toán ngân sách Nhà nước hàng năm;

4- Thông qua dự án luật trình Quốc hội và dự án pháp lệnh trình Hội đồng Nhà nước;

5- Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch Nhà nước và các chủ trương, chính sách của Hội đồng bộ trưởng.

Các nghị quyết, nghị định và quyết định của Hội đồng bộ trưởng phải được quá nửa tổng số thành viên của Hội đồng bộ trưởng biểu quyết tán thành.

Cập nhật Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng sửa đổi chi tiết nhất

Điều 18

Hội đồng bộ trưởng lãnh đạo công tác và kiểm tra hoạt động của các Bộ, Uỷ ban Nhà nước và cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng; có quyền đình chỉ việc thi hành và sửa đổi hoặc bãi bỏ những quyết định, chỉ thị, thông tư không thích đáng của các Bộ, Uỷ ban Nhà nước và cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng.

Điều 19

Hội đồng bộ trưởng và các thành viên của Hội đồng bộ trưởng có trách nhiệm trả lời các chất vấn và kiến nghị của các Hội đồng, các Uỷ ban của Quốc hội và của đại biểu Quốc hội.

Các thành viên của Hội đồng bộ trưởng có nhiệm vụ trình bày hoặc cung cấp tư liệu về những vấn đề cần thiết theo yêu cầu của các Hội đồng và các Uỷ ban của Quốc hội.

Điều 20

Hội đồng bộ trưởng bảo đảm cho Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện đầy đủ nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương; lãnh đạo Uỷ ban nhân dân các cấp làm tròn nhiệm vụ của cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương; thông báo đều đặn tình hình cho Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương.

Hội đồng bộ trưởng có quyền đình chỉ việc thi hành những nghị quyết không thích đáng của các Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương, đồng thời đề nghị Hội đồng Nhà nước sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết đó.

Hội đồng bộ trưởng có quyền đình chỉ việc thi hành và sửa đổi hoặc bãi bỏ những quyết định và chỉ thị không thích đáng của Uỷ ban nhân dân các cấp; nếu Uỷ ban nhân dân không nhất trí với quyết định của Hội đồng bộ trưởng thì vẫn phải chấp hành quyết định đó và yêu cầu Hội đồng bộ trưởng xem xét.

Điều 21

Hội đồng bộ trưởng tạo điều kiện thuận lợi để các đoàn thể nhân dân tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội; dựa vào các đoàn thể nhân dân trong việc xây dựng các chủ trưởng, chính sách và pháp luật của Nhà nước liên quan đến các tầng lớp nhân dân; động viên nhân dân thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các chủ trương, chính sách và pháp luật đó; cùng với Tổng công đoàn Việt Nam và các đoàn thể nhân dân khác tổ chức và chỉ đạo phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa, khen thưởng kịp thời các đơn vị và cá nhân có thành tích trong sản xuất, chiến đấu và công tác.

Hội đồng bộ trưởng và các thành viên Hội đồng bộ trưởng có trách nhiệm trả lời cho các đoàn thể nhân dân biết kết quả giải quyết những kiến nghị của các đoàn thể.

Điều 22

Thủ trưởng các cơ quan Nhà nước thuộc Hội đồng bộ trưởng không phải là thành viên Hội đồng bộ trưởng được tham dự hội nghị Hội đồng bộ trưởng.

Chủ tịch Tổng công đoàn Việt Nam có quyền tham dự hội nghị Hội đồng bộ trưởng.

Chủ tịch Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người phụ trách chính của các đoàn thể nhân dân trong Mặt trận được mời tham dự hội nghị Hội đồng bộ trưởng khi cần thiết.

Những người tham dự hội nghị Hội đồng bộ trưởng nói trong điều này có quyền phát biểu ý kiến nhưng không biểu quyết.

Điều 23

Cơ quan thường trực của Hội đồng bộ trưởng là Thường vụ Hội đồng bộ trưởng. Thường vụ Hội đồng bộ trưởng gồm có Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng, các Phó Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng, trong đó có một Phó Chủ tịch được phân công làm Phó Chủ tịch thường trực, và Bộ trưởng Tổng thư ký Hội đồng bộ trưởng.

Điều 24

Thường vụ Hội đồng bộ trưởng có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1- Bảo đảm việc thực hiện các nghị quyết, nghị định, quyết định của Hội đồng bộ trưởng;

2- Căn cứ vào nghị quyết của Hội đồng bộ trưởng, giữa hai kỳ họp của Hội đồng bộ trưởng, quyết định những vấn đề thuộc quyền hạn của Hội đồng bộ trưởng; những quyết định đó phải được báo cáo với Hội đồng bộ trưởng;

3- Chuẩn bị các phiên họp của Hội đồng bộ trưởng.

Điều 25

Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng đứng đầu Hội đồng bộ trưởng, lãnh đạo, quản lý và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của Hội đồng bộ trưởng; đại diện Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong quan hệ quốc tế.

Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1- Triệu tập và chủ toạ hội nghị Hội đồng bộ trưởng, hội nghị thường vụ Hội đồng bộ trưởng; bảo đảm tính tập thể trong việc thảo luận và giải quyết các công việc của Hội đồng bộ trưởng và Thường vụ Hội đồng bộ trưởng;

2- Đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện nhưng quyết định của Quốc hội, Hội đồng Nhà nước, Hội đồng bộ trưởng ở các ngành, các cấp;

3- Chỉ đạo và điều hoà, phối hợp công tác của các Bộ, các Uỷ ban Nhà nước, các cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng và Uỷ ban nhân dân các cấp;

4- Có chế độ làm việc với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương;

5- Cải tiến lề lối làm việc, đề cao kỷ luật công tác, nâng cao hiệu lực hoạt động của bộ máy Nhà nước;

6- Ban hành các quyết đinh, chỉ thị và thông tư;

7- Đề nghị với Quốc hội hoặc Hội đồng Nhà nước bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc bãi chức thành viên của Hội đồng bộ trưởng;

8- Bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc bãi chức các thứ trưởng, tổng cục trưởng, phó tổng cục trưởng các tổng cục thuộc Hội đồng bộ trưởng và các chức vụ tương đương;

9- Thành lập các cơ quan giúp việc.

Điều 26

Các Phó Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng giúp Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng, được Chủ tịch phân công điều hoà, phối hợp và kiểm tra, đôn đốc công tác của một số ngành hoặc lĩnh vực công tác.

Khi Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng vắng mặt, Phó Chủ tịch thường trực là người quyền Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng.

Điều 27

Văn phòng Hội đồng bộ trưởng là bộ máy làm việc của Hội đồng bộ trưởng, do Bộ trưởng Tổng thư ký Hội đồng bộ trưởng lãnh đạo.

4. Chương IV

NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ QUAN HỆ CÔNG TÁC CỦA BỘ TRƯỞNG, CHỦ NHIỆM UỶ BAN NHÀ NƯỚC

Điều 28

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước đứng đầu Bộ, Uỷ bam Nhà nước, chịu trách nhiệm trước Quốc hội, Hội đồng Nhà nước và Hội đồng bộ trưởng về việc quản lý Nhà nước đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác được phân công, và cùng với các thành viên khác của Hội đồng bộ trưởng chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Hội đồng bộ trưởng trước Quốc hội và Hội đồng Nhà nước.

Điều 29

Thực hiện chức năng quản lý ngành hoặc lĩnh vực công tác của mình trong cả nước, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1- Lập quy hoạch và dự báo phát triển, các kế hoạch dài hạn, kế hoạch 5 năm và kế hoạch hàng năm;

2- Xây dựng dự án pháp luật, chính sách, chế độ quản lý, tiêu chuẩn, định mức kinh tế – kỹ thuật;

3- Xây dựng dự báo về phát triển khoa học, kỹ thuật; tổ chức nghiên cứu khoa học và ứng dụng những tiến bộ khoa học, kỹ thuật, những thành tựu của khoa học quản lý;

4- Tổ chức bộ máy quản lý; tổ chức việc đào tạo, bối dưỡng và xây dựng tiêu chuẩn, chính sách, chế độ đối với cán bộ, công nhân, viên chức;

5- Tiến hành việc hợp tác quốc tế về kinh tế, văn hoá, khoa học, kỹ thuật theo chính sách và pháp luật của Nhà nước.

Điều 30

Bộ trưởng và Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước có quyền sử dụng và chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng cán bộ, lao động, tiền vốn, vật tư và thiết bị được giao; chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác, kết quả thực hiện kế hoạch và ngân sách của Bộ, Uỷ ban Nhà nước.

Bộ trưởng quản lý ngành có trách nhiệm:

1- Chỉ đạo toàn diện các cơ quan, đơn vị do mình trực tiếp quản lý;

2- Chỉ đạo về nội dung công tác của ngành và kiểm tra việc thực hiện các chính sách, chế độ thuộc quyền quản lý thống nhất của Bộ đối với các cơ quan, đơn vị thuộc ngành do các địa phương trực tiếp quản lý;

3- Hướng dẫn về nghiệp vụ và kiểm tra việc thực hiện các chính sách, chế độ thuộc quyền quản lý thống nhất của Bộ đối với các đơn vị thuộc ngành do các Bộ khác trực tiếp quản lý.

Bộ trưởng và Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước làm chức năng quản lý tổng hợp có trách nhiệm hướng dẫn và kiểm tra các ngành, các cấp, các đơn vị cơ sở trong cả nước chấp hành các chính sách, chế độ thuộc lĩnh vực công tác mình phụ trách; đồng thời có trách nhiệm phục vụ và tạo điều kiện thuận lợi để các Bộ quản lý ngành hoàn thành nhiệm vụ và kế hoạch.

Điều 31

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước có quyền ra những quyết định, chỉ thị, thông tư về những vấn đề thuộc chức năng quản lý của mình; hướng dẫn và kiểm tra các ngành, các cấp, các đơn vị trong cả nước thi hành các văn bản đó.

Điều 32

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước có nhiệm vụ phối hợp công tác, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau hoàn thành nhiệm vụ và kế hoạch Nhà nước.

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước có quyền yêu cầu Bộ trưởng hoặc Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước khác sửa đổi hoặc bãi bỏ các quy định trái với nội dung quản lý thống nhất của ngành hoặc lĩnh vực mình phụ trách; nếu yêu cầu đó không được chấp nhận, thì có quyền kiến nghị với Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng quyết định.

Cập nhật Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng sửa đổi chi tiết nhất

Điều 33

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện các nhiệm vụ công tác thuộc ngành hoặc lĩnh vực mình phụ trách.

Theo chức năng của mình, Bộ trưởng và Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước có trách nhiệm căn cứ vào chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước mà cung cấp cán bộ, công nhân kỹ thuật, tiền vốn, vật tư, thiết bị và tạo điều kiện thuận lợi để Uỷ ban nhân dân các cấp phát huy tiềm lực của địa phương, hoàn thành kế hoạch và mọi nhiệm vụ công tác; cùng Uỷ ban nhân dân các cấp chăm lo đời sống vật chất và văn hoá của cán bộ, công nhân, viên chức các cơ quan, đơn vị thuộc quyền mình quản lý.

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước có quyền yêu cầu Uỷ ban nhân dân các cấp sửa đổi hoặc bãi bỏ các quy định trái với nội dung quản lý của ngành hoặc lĩnh vực mình phụ trách; nếu Uỷ ban nhân dân không nhất trí với yêu cầu đó, thì kiến nghị với Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng quyết định.

Điều 34

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước lãnh đạo Bộ, Uỷ ban theo chế độ thủ trưởng. Giúp việc Bộ trưởng có các thứ trưởng, trong đó có một thứ trưởng thứ nhất; giúp việc Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước có các phó chủ nhiệm, trong đó có một phó chủ nhiệm thứ nhất, và các Uỷ viên.

Điều 35

Thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng có chức năng quản lý ngành hoặc lĩnh vực công tác trong cả nước cũng có những nhiệm vụ và quyền hạn quy định cho các thành viên của Hội đồng bộ trưởng ghi trong các Điều 29, 30, 31, 32, 33, 34 của Chương IV Luật này.

5. Chương V

ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG

Điều 36

Hội đồng bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Luật này.

Điều 37

Luật này thay thế Luật tổ chức Hội đồng Chính phủ ngày 14 tháng 7 năm 20…

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VII, kỳ họp thứ nhất, thông qua ngày 4 tháng 7 năm 20…

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

Nguyễn Thị Kim Ngân

Vừa rồi là những nội dung chính bàn về Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng bổ sung sửa đổi áp dụng cho năm 2019, đối tượng nào đang công tác và hoạt động trong vị trí chủ chốt của Hội đồng Bộ trưởng cần tham khảo cập nhật nhanh các quy định mới nhất này. Luật về tổ chức Hội đồng Bộ trưởng sẽ tiếp tục có nhiều điều chỉnh phù hợp hơn để phù hợp với từng thời kỳ, thời điểm nên hi vọng rằng, kiến thức Luật năm nay sẽ hỗ trợ phần nào cho các cán bộ lãnh đạo, các tổ chức cá nhân sớm hoàn thành tốt vai trò của mình trong bộ máy chuyên trách Nhà nước. Phapluat360.com chúc các bạn xem tin vui và đừng quên đồng hành, ủng hộ kênh tin tức pháp luật đáng tin cậy này nhé!

Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân sửa đổi bổ sung mới nhất 2019

Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân sửa đổi bổ sung mới nhất 2019 tiếp tục thêm mới một số chi tiết quan trọng và bãi bỏ những điều khoản chưa thật sự hợp lý trước đó. Nhà nước và các cơ quan ban ngành luôn đặc biệt quan tâm tới chính sách hỗ trợ về chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho người dân nên trong năm 2019 này, sự thay đổi về những nội dung liên quan như quy định vệ sinh trong sinh hoạt và lao động, vệ sinh công cộng, phòng và chống dịch bệnh; các hoạt động thể dục thể thao, điều dưỡng và phục hồi chức năng; quyền về thăm khám chữa bệnh; chính sách thực hiện kế hoạch hóa gia đình và bảo vệ sức khỏe phụ nữ trẻ em,….sẽ nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ người dân về mọi mặt, đặc biệt là sức khỏe lẫn tinh thần.

Hãy cùng phapluat360.com chúng tôi nghiên cứu chi tiết Luật bảo vệ sức khỏe Nhân dân sửa đổi bổ sung mới nhất bên dưới đây nhé!

Quy định chung của Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân sửa đổi bổ sung mới nhất

QUỐC HỘI
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********

Số: 21-LCT/HĐNN8

Hà Nội, ngày 30 tháng 6 năm 20…

 LUẬT

CỦA QUỐC HỘI SỐ 21-LCT/HĐNN8 NGÀY 30/06/20… VỀ BẢO VỆ SỨC KHOẺ NHÂN DÂN

Sức khoẻ là vốn quý nhất của con người, là một trong những điều cơ bản để con người sống hạnh phúc, là mục tiêu và là nhân tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Để bảo vệ và tăng cường sức khoẻ nhân dân;

Căn cứ vào Điều 47, Điều 61 và Điều 83 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Luật này quy định việc bảo vệ sức khoẻ nhân dân.

1. Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Quyền và nghĩa vụ của công dân trong bảo vệ sức khoẻ.

1- Công dân có quyền được bảo vệ sức khoẻ, nghỉ ngơi, giải trí, rèn luyện thân thể; được bảo đảm vệ sinh trong lao động, vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh môi trường sống và được phục vụ về chuyên môn y tế.

2- Bảo vệ sức khoẻ là sự nghiệp của toàn dân. Tất cả công dân có nghĩa vụ thực hiện nghiêm chỉnh những quy định của pháp luật về bảo vệ sức khoẻ nhân dân để giữ gìn sức khoẻ cho mình và cho mọi người.

Điều 2. Nguyên tắc chỉ đạo công tác bảo vệ sức khoẻ.

1- Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục vệ sinh trong nhân dân; tiến hành các biện pháp dự phòng, cải tạo và làm sạch môi trường sống; bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh lao động, vệ sinh lương thực, thực phẩm và nước uống theo quy định của Hội đồng bộ trngưở.

2- Mở rộng mạng lưới nhà nghỉ, nhà điều dưỡng, cơ sở tập luyện thể dục thể thao; kết hợp lao động, học tập với nghỉ ngơi và giải trí; phát triển thể dục thể thao quần chúng để duy trì và phục hồi khả năng lao động.

3- Hoàn thiện, nâng cao chất lượng và phát triển mạng lưới phòng, chống dịch, khám bệnh, chữa bệnh; kết hợp phát triển hệ thống y tế Nhà nước với y tế tập thể và y tế tư nhân.

4- Xây dựng nền y học Việt Nam kế thừa và phát triển nền y học, dược học cổ truyền dân tộc; kết hợp y học, dược học hiện đại với y học, dược học cổ truyền dân tộc, nghiên cứu và ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật của y học thế giới vào thực tiễn Việt Nam, xây dựng các mũi nhọn khoa học y học, dược học Việt Nam.

Điều 3. Trách nhiệm của Nhà nước.

1- Nhà nước chăm lo bảo vệ và tăng cường sức khoẻ nhân dân; đưa công tác bảo vệ sức khoẻ nhân dân vào kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và ngân sách Nhà nước; quyết định những chế độ chính sách, biện pháp để bảo vệ và tăng cường sức khoẻ nhân dân.

2- Bộ y tế có trách nhiệm quản lý, hoàn thiện, nâng cao chất lượng và phát triển hệ thống phòng bệnh, chống dịch, khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, lưu thông thuốc và thiết bị y tế, kiểm tra việc thực hiện các quy định về chuyên môn nghiệp vụ y, dược.

3- Hội đồng nhân dân các cấp dành tỷ lệ ngân sách thích đáng cho công tác bảo vệ sức khoẻ nhân dân ở địa phương; thường xuyên giám sát, kiểm tra việc tuân theo pháp luật về bảo vệ sức khoẻ nhân dân của Uỷ ban nhân dân cùng cấp, của các cơ quan, các tổ chức xã hội, cơ sở sản xuất, kinh doanh của Nhà nước, tập thể, tư nhân và mọi công dân trong địa phương. Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thực hiện các biện pháp để bảo đảm vệ sinh ăn, ở, sinh hoạt, vệ sinh công cộng cho nhân dân trong địa phương; lãnh đạo các cơ quan y tế trực thuộc, chỉ đạo sự phối hợp giữa các ngành, các tổ chức xã hội trong địa phương để thực hiện những quy định của pháp luật về bảo vệ sức khoẻ nhân dân.

Điều 4. Trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, các đơn vị vũ trang nhân dân.

Các cơ quan Nhà nước, các cơ sở sản xuất, kinh doanh của Nhà nước, các đơn vị vũ trang nhân dân (gọi chung là các tổ chức Nhà nước), các cơ sở sản xuất, kinh doanh của tập thể và tư nhân có trách nhiệm trực tiếp chăm lo, bảo vệ, tăng cường sức khoẻ của những thành viên trong cơ quan, đơn vị mình và đóng góp tiền của, công sức theo khả năng cho công tác bảo vệ sức khoẻ nhân dân.

Điều 5. Trách nhiệm của các tổ chức xã hội.

1- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Tổng hội y dược học Việt Nam, Hội y học cổ truyền dân tộc Việt Nam và các tổ chức xã hội khác động viên, giáo dục các thành viên trong tổ chức thực hiện những quy định của pháp luật về bảo vệ sức khoẻ nhân dân và tham gia tích cực vào sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong phạm vi điều lệ của tổ chức mình.

2- Hội chữ thập đỏ Việt Nam tuyên truyền, phổ biến những kiến thức y học thường thức cho hội viên và nhân dân, vận động nhân dân thực hiện các biện pháp giữ gìn sức khoẻ cho bản thân và cho mọi người, hiến máu cứu người; tổ chức cứu trợ nhân dân khi có tai nạn, thiên tai, dịch bệnh và chiến tranh xảy ra.

Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân sửa đổi bổ sung mới nhất 2019

2. Chương II

VỆ SINH TRONG SINH HOẠT VÀ LAO ĐỘNG, VỆ SINH CÔNG CỘNG, PHÒNG VÀ CHỐNG DỊCH BỆNH

Điều 6. Giáo dục vệ sinh.

1- Các cơ quan y tế, văn hoá, giáo dục, thể dục thể thao, thông tin đại chúng và các tổ chức xã hội có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân kiến thức về y học và vệ sinh thường thức, vệ sinh môi trường, vệ sinh phụ nữ, vệ sinh thai nghén và nuôi dạy con.

2- Bộ giáo dục xây dựng chương trình giáo dục vệ sinh cho học sinh phổ thông, mẫu giáo, nhà trẻ, tạo thói quen giữ gìn vệ sinh chung, vệ sinh trong sinh hoạt và học tập.

Điều 7. Vệ sinh lương thực, thực phẩm, các loại nước uống và rượu.

1- Các tổ chức Nhà nước, tập thể, tư nhân khi sản xuất, chế biến, bao bì đóng gói, bảo quản, vận chuyển lương thực, thực phẩm, các loại nước uống và rượu phải bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh. Khi đưa các hoá chất mới, nguyên liệu mới hoặc các chất phụ gia mới vào chế biến, bảo quản lương thực, thực phẩm, các loại nước uống, rượu và sản phẩm các loại bao bì đóng gói phải được phép của Sở y tế.

2- Nghiêm cấm sản xuất, lưu thông, xuất khẩu, nhập khẩu những mặt hàng lương thực, thực phẩm, các loại nước uống và rượu không bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh.

3- Người đang mắc bệnh truyền nhiễm không được làm những công việc có liên quan trực tiếp đến thực phẩm, các loại nước uống và rượu.

Thông báo tuyển sinh lớp Trung cấp Điều dưỡng hệ chính quy,văn bằng 2 Điều dưỡng,văn bằng Quốc gia, được phép dự thi liên …

Điều 8. Vệ sinh nước và các nguồn nước dùng trong sinh hoạt của nhân dân.

1- Các cơ quan, xí nghiệp cấp nước phải bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh nước dùng trong sinh hoạt của nhân dân.

2- Nghiêm cấm các tổ chức Nhà nước, tập thể, tư nhân và mọi công dân làm ô nhiễm các nguồn nước dùng trong sinh hoạt của nhân dân.

Điều 9. Vệ sinh trong sản xuất, bảo quản, vận chuyển và sử dụng hoá chất.

1- Các tổ chức Nhà nước, tập thể, tư nhân và mọi công dân khi sản xuất, bảo quản, vận chuyển, sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu, diệt cỏ, diệt chuột, hoá chất kích thích sinh trưởng vật nuôi, cây trồng và các loại hoá chất khác phải bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh, không gây nguy hại đến sức khoẻ con người.

2- Các cơ sở sản xuất mỹ phẩm, đồ chơi trẻ em, đồ dùng vệ sinh cá nhân bằng hoá chất phải bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh.

Điều 10. Vệ sinh các chất thải trong công nghiệp và trong sinh hoạt.

1- Các xí nghiệp, các cơ sở sản xuất của Nhà nước, tập thể, tư nhân phải thực hiện những biện pháp xử lý chất thải trong công nghiệp để phòng, chống ô nhiễm không khí, đất và nước theo quy định của Hội đồng bộ trưởng.

2- Các tổ chức Nhà nước, tổ chức xã hội, tập thể, tư nhân và mọi công dân không được để các chất phế thải trong sinh hoạt làm ô nhiễm môi trường sống ở các khu dân cư.

Điều 11. Vệ sinh trong chăn nuôi gia súc, gia cầm.

1- Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm phải bảo đảm vệ sinh chung. Không được giết mổ, mua, bán, ăn thịt gia súc, gia cầm bị bệnh truyền nhiễm gây nguy hại cho sức khoẻ con người.

2- Nghiêm cấm việc thả rông chó ở thành phố, thị xã và thị trấn; chó nuôi phải được tiêm phòng theo quy định của cơ quan thú y.

Điều 12. Vệ sinh trong xây dựng.

Việc quy hoạch xây dựng và cải tạo các khu dân cư, các công trình công nghiệp và các công trình dân dụng đều phải tuân theo tiêu chuẩn vệ sinh.

Điều 13. Vệ sinh trong trường học và nhà trẻ.

1- Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp, ngành giáo dục và các ngành có liên quan phải từng bước bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị, ánh sáng, đồ dùng giảng dạy, học tập ở trường học và nhà trẻ, không làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của học sinh và giáo viên.

2- Hiệu trưởng các trường học và Chủ nhiệm các nhà trẻ phải bảo đảm thực hiện chương trình học tập rèn luyện đã được quy định; bảo đảm vệ sinh trường, lớp và nhà trẻ.

Điều 14. Vệ sinh trong lao động.

1- Các tổ chức Nhà nước, tập thể và tư nhân phải thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn lao động, bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh về độ nóng, ẩm, khói, bụi, tiếng ồn, rung chuyển và về các yếu tố độc hại khác trong lao động sản xuất để bảo vệ sức khoẻ, phòng, chống bệnh nghề nghiệp cho người lao động, không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường xung quanh.

2- Đơn vị và cá nhân sử dụng lao động phải tổ chức việc khám sức khoẻ định kỳ cho người lao động và phải phải bảo đảm trang bị bảo hộ lao động cần thiết cho người lao động.

Điều 15. Vệ sinh nơi công cộng.

1- Mọi người phải có trách nhiệm thực hiện những quy định về vệ sinh nơi công cộng.

2- Cấm phóng uế, vứt rác và các chất phế thải khác trên đường phố, vườn hoa, công viên và những nơi công cộng khác.

3- Cấm hút thuốc trong phòng họp, ở rạp chiếu bóng, rạp hát và những nơi quy định khác.

Điều 16. Vệ sinh trong việc quàn, ướp, chôn, hoả táng, di chuyển thi hài, hài cốt.

1- Việc quàn, ướp, chôn, hoả táng, di chuyển thi hài, hài cốt, phải tuân theo các quy định về vệ sinh phòng dịch. Nhà nước khuyến khích việc hoả táng thi hài và hài cốt.

2- Khi di chuyển thi hài, hài cốt qua biên giới Việt Nam, phải có giấy phép theo quy định của Hội đồng bộ trưởng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Điều 17. Phòng và chống các bệnh nhiễm khuẩn, bệnh dịch.

1- Y tế cơ sở phải tổ chức tiêm chủng các loại vắc xin phòng bệnh cho nhân dân.

2- Các tổ chức Nhà nước, tập thể, tư nhân và mọi công dân phải thực hiện các biện pháp phòng, chống các bệnh nhiễm khuẩn, bệnh dịch. Khi phát hiện có bệnh dịch hoặc nghi có bệnh dịch trong đơn vị, địa phương, cơ quan y tế phải báo cáo kịp thời với Uỷ ban nhân dân cùng cấp và cơ quan y tế cấp trên.

3- Uỷ ban nhân dân các cấp phải bảo đảm công tác phòng dịch, chống dịch tại địa phương.

4- Căn cứ vào tính chất nguy hiểm, mức độ lây lan của từng vụ dịch, Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng, Bộ trưởng Bộ y tế, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương có quyền áp dụng những biện pháp đặc biệt để nhanh chóng dập tắt dịch.

Điều 18. Kiểm dịch.

1- Động vật, thực vật, phương tiện vận chuyển hàng hoá ra vào biên giới và quá cảnh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều phải được kiểm dịch.

2- Động vật, thực vật, phương tiện vận chuyển, hàng hoá và bưu phẩm từ vùng có dịch chuyển ra vùng không có dịch đều phải được kiểm dịch tại các đầu mối giao thông và bưu điện.

3. Chương III

THỂ DỤC THỂ THAO, ĐIỀU DƯỠNG VÀ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG

Điều 19. Tổ chức hoạt động thể dục thể thao.

1- Các ngành, các cấp, các tổ chức Nhà nước, tổ chức xã hội, tập thể, tư nhân có trách nhiệm tạo điều kiện cần thiết và tổ chức, động viên mọi người tham gia hoạt động thể dục thể thao.

2- Tổng cục thể dục thể thao phối hợp với các ngành có liên quan nghiên cứu, phố biến các phương pháp tập luyện, các môn tập, bài tập thể dục thể thao phù hợp với thể lực, lứa tuổi, ngành nghề, hướng dẫn chữa bệnh bằng thể dục; xây dựng và phát triển y học thể dục thể thao; đào tạo cán bộ, hướng dẫn viên, huấn luyện viên và giáo viên thể dục thể thao.

3- Nghiêm cấm các hành vi thô bạo trong tập luyện và thi đấu thể dục thể thao.

Điều 20. Tổ chức nghỉ ngơi và điều dưỡng.

1- Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, các ngành, các cấp, các tổ chức Nhà nước, các tổ chức xã hội, tổ chức tập thể có trách nhiệm mở rộng các cơ sở điều dưỡng, nhà nghỉ và câu lạc bộ sức khoẻ.

2- Các tổ chức và tư nhân sử dụng lao động phải tạo điều kiện cho người lao động được điều dưỡng và nghỉ ngơi.

Điều 21. Phục hồi chức năng.

1- Bộ y tế, Bộ lao động – thương binh và xã hội phải xây dựng và bảo đảm điều kiện cần thiết cho các cơ sở phục hồi chức năng hoạt động.

2- Ngành y tế, ngành lao động – thương binh và xã hội phối hợp với các ngành liên quan, các tổ chức xã hội mở rộng hoạt động phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng để phòng ngừa và hạn chế hậu quả tàn tật; áp dụng kỹ thuật thích hợp để đưa người tàn tật có khả năng trở lại cuộc sống bình thường.

Điều 22. Điều dưỡng, phục hồi sức khoẻ bằng yếu tố thiên nhiên.

Nguồn nước khoáng, mỏ bùn thuốc, khu vực bãi biển, vùng khí hậu và các yếu tố thiên nhiên khác có tác dụng dược lý đặc biệt phải được sử dụng vào việc điều dưỡng và phục hồi sức khoẻ.

Hội đồng bộ trưởng quy định việc xác định, xếp hạng, quản lý khai thác, sử dụng và bảo vệ các yếu tố thiên nhiên quy định tại Điều này.

4. Chương IV

KHÁM BỆNH VÀ CHỮA BỆNH

Điều 23. Quyền được khám bệnh và chữa bệnh.

1- Mọi người khi ốm đau, bệnh tật, bị tai nạn được khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ở nơi công dân cư trú, lao động, học tập.

Người bệnh còn được chọn thầy thuốc hoặc lương y, chọn cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và ra nước ngoài để khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Hội đồng bộ trưởng.

2- Trong trường hợp cấp cứu, người bệnh được cấp cứu tại bất kỳ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nào. Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải tiếp nhận và xử trí mọi trường hợp cấp cứu.

Điều 24. Điều kiện hành nghề của thầy thuốc.

Người có bằng tốt nghiệp y khoa ở các trường đại học hoặc trung học và có giấy phép hành nghề do Bộ y tế hoặc Sở y tế cấp được khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở y tế Nhà nước, tập thể, tư nhân.

Điều 25. Trách nhiệm của thầy thuốc.

1- Thầy thuốc có nghĩa vụ khám bệnh chữa bệnh, kê đơn và hướng dẫn cách phòng bệnh, tự chữa bệnh cho người bệnh; phải giữ bí mật về những điều có liên quan đến bệnh tật hoặc đời tư mà mình được biết về người bệnh.

2- Thầy thuốc phải có y đức, có tinh thần trách nhiệm, tận tình cứu chữa người bệnh; chấp hành nghiêm chỉnh các quy định chuyên môn nghiệp vụ, kỹ thuật y tế; chỉ sử dụng những phương pháp, phương tiện, dược phẩm được Bộ y tế cho phép.

3- Nghiêm cấm hành vi vô trách nhiệm trong cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh làm tổn hại đến sức khoẻ, tính mạng, danh dự, nhân phẩm của người bệnh.

Điều 26. Giúp đỡ bảo vệ thầy thuốc và nhân viên y tế.

1- Mọi tổ chức và công dân có trách nhiệm giúp đỡ, bảo vệ thầy thuốc và nhân viên y tế khi họ làm nhiệm vụ.

2- Trong trường hợp khẩn cấp để đưa người bệnh hay người bị tai nạn đến cơ sở cấp cứu, thầy thuốc, nhân viên y tế được quyền sử dụng các phương tiện vận chuyển có mặt tại chỗ. Người điều khiển phương tiện phải thực hiện yêu cầu của người thầy thuốc và nhân viên y tế.

3- Nghiêm cấm hành vi làm tổn hại đến sức khoẻ, tính mạng, danh dự, nhân phẩm của thầy thuốc và nhân viên y tế trong khi đang làm nhiệm vụ.

Điều 27. Trách nhiệm của người bệnh.

1- Người bệnh có trách nhiệm tôn trọng thầy thuốc và nhân viên y tế; chấp hành những quy định trong khám bệnh, chữa bệnh.

2- Người bệnh phải trả một phần chi phí y tế. Hội đồng bộ trưởng quy định chế độ thu chi phí y tế.

Điều 28. Chữa bệnh bằng phẵu thuật.

Thầy thuốc chỉ tiến hành phẵu thuật sau khi được sự đồng ý của người bệnh. Đối với người bệnh chưa thành niên, người bệnh đang bị hôn mê hay mắc bệnh tâm thần thì phải được sự đồng ý của thân nhân hoặc người giám hộ của người bệnh. Trong trường hợp mà thân nhân hay người giám hộ của người bệnh không đồng ý hoặc thân nhân hay người giám hộ vắng mặt, nếu không kịp thời phẵu thuật có thể nguy hại đến tính mạng người bệnh, thì thầy thuốc được quyền quyết định, nhưng phải có sự phê chuẩn của người phụ trách hay người được uỷ quyền của cơ sở y tế đó.

Điều 29. Bắt buộc chữa bệnh.

1- Các cơ sở y tế phải tiến hành các biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người mắc bệnh tâm thần thể nặng, bệnh lao, phong đang thời kỳ lây truyền, bệnh lây truyền qua đường sinh dục, bệnh nghiện ma tuý, bệnh SIDA và một số bệnh truyền nhiễm khác có thể gây nguy hại cho xã hội.

2- Việc bắt buộc chữa bệnh tại các cơ sở y tế phải được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Điều 30. Lấy và ghép mô hoặc một bộ phận của cơ thể con người.

1- Thầy thuốc chỉ tiến hành lấy mô hoặc bộ phận của cơ thể người sống hay người chết dùng vào mục đích y tế sau khi đã được sự đồng ý của người cho, của thân nhân người chết hoặc người chết có di chúc để lại.

2- Việc ghép mô hoặc một bộ phận cho cơ thể người bệnh phải được sự đồng ý của người bệnh hoặc thân nhân hay người giám hộ của người bệnh chưa thành niên.

3- Bộ y tế quy định chế độ chăm sóc sức khoẻ người cho mô hoặc một bộ phận của cơ thể.

Điều 31. Giải phẵu tử thi.

Bệnh viện được quyền giải phẵu thi thể người chết tại bệnh viện trong trường hợp cần thiết để nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh. Các trường đại học y khoa được dùng tử thi vô thừa nhận và tử thi của người có di chúc cho phép sử dụng vào mục đích học tập và nghiên cứu khoa học.

Điều 32

Khám bệnh, chữa bệnh cho người nước ngoài tại Việt Nam.

1- Người nước ngoài đang ở trên lãnh thổ Việt Nam được khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở y tế và phải chấp hành những quy định pháp luật về bảo vệ sức khoẻ nhân dân. Người nước ngoài có thể vào Việt Nam để khám bệnh, chữa bệnh.

2- Hội đồng bộ trưởng quy định chế độ khám bệnh, chữa bệnh cho người nước ngoài tại Việt Nam.

Điều 33. Giám định y khoa.

1- Hội đồng giám định y khoa xác định tình trạng sức khoẻ và khả năng lao động của người lao động theo yêu cầu của các tổ chức sử dụng lao động và người lao động.

2- Các tổ chức sử dụng lao động và các cơ quan bảo hiểm xã hội phải căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định y khoa để thực hiện chính sách đối với người lao động.

Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân sửa đổi bổ sung mới nhất 2019

5. Chương V

Y HỌC, DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN DÂN TỘC

Điều 34. Kế thừa và phát triển nền y học, dược học cổ truyền dân tộc.

1- Bộ y tế, Hội y học cổ truyền dân tộc Việt Nam và Tổng hội y dược học Việt Nam có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc kế thừa, phát triển nền y học, dược học cổ truyền dân tộc, kết hợp y học, dược học hiện đại với y học, dược học cổ truyền dân tộc trong mọi lĩnh vực hoạt động y tế và bảo đảm điều kiện hoạt động cho các bệnh viện, viện đầu ngành y học dân tộc.

2- Ngành y tế, Uỷ ban nhân dân các cấp phải củng cố và mở rộng mạng lưới phục vụ y tế bằng y học, dược học cổ truyền dân tộc và phát triển nuôi trồng dược liệu trong địa phương mình.

Điều 35. Điều kiện hành nghề của lương y.

Người đã tốt nghiệp ở các trường, lớp hoặc được gia truyền về y học, dược học cổ truyền dân tộc, chữa bệnh bằng các phương pháp y học cổ truyền dân tộc hoặc bằng các bài thuốc gia truyền và có giấy phép hành nghề do Bộ y tế hoặc Sở y tế cấp được khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở y tế Nhà nước, tập thể và tư nhân.

Điều 36. Trách nhiệm của lương y.

1- Lương y có nhiệm vụ khám bệnh, chữa bệnh và hướng dẫn cách phòng bệnh, tự chữa bệnh cho người bệnh; phải có y đức, có tinh thần trách nhiệm tận tình cứu chữa người bệnh.

2- Những bài thuốc mới, phương pháp chữa bệnh mới phải được Bộ y tế hoặc Sở y tế cùng với Hội y học cổ truyền dân tộc cùng cấp kiểm tra xác nhận mới được áp dụng vào khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân.

3- Nghiêm cấm việc sử dụng các hình thức mê tín trong khám bệnh, chữa bệnh.

Điều 37. Giúp đỡ và bảo vệ lương y.

1- Nhà nước bảo đảm quyền tác giả cho lương y về việc phổ biến những bài thuốc, vị thuốc và dược liệu quý, phương pháp chữa bệnh gia truyền có hiệu quả của mình.

2- Mọi người có trách nhiệm giúp đỡ và bảo vệ lương y cũng như đối với thầy thuốc theo quy định tại Điều 26 của Luật này.

6. Chương VI

THUỐC PHÒNG BỆNH, CHỮA BỆNH

Điều 38. Quản lý sản xuất, lưu thông, xuất khẩu, nhập khẩu thuốc và nguyên liệu làm thuốc.

1- Bộ y tế thống nhất quản lý sản xuất, lưu thông, xuất khẩu, nhập khẩu thuốc và nguyên liệu làm thuốc, tổ chức bán và cung cấp thuốc thiết yếu trong phòng bệnh, chữa bệnh cho nhân dân.

2- Các cơ sở của Nhà nước, tập thể, tư nhân được cơ quan y tế có thẩm quyền cho phép mới được sản xuất, lưu thông, xuất khẩu, nhập khẩu thuốc, nguyên liệu làm thuốc và chỉ được phép sản xuất, lưu thông, xuất khẩu, nhập khẩu các loại thuốc và nguyên liệu làm thuốc đã được Bộ y tế quy định.

3- Người có bằng cấp chuyên môn về dược và được Bộ y tế hoặc Sở y tế cấp giấy phép mới được hành nghề dược.

4- Các loại thuốc mới phải được Bộ y tế hoặc Sở y tế kiểm tra, xác định hiệu lực phòng bệnh, chữa bệnh, bảo đảm an toàn đối với người bệnh mới được đưa vào sản xuất, lưu thông, xuất khẩu, nhập khẩu.

Điều 39. Quản lý thuốc độc, thuốc và chất dễ gây nghiện, gây hưng phấn, ức chế tâm thần.

1- Các loại thuốc có độc tính cao, các thuốc và chất dễ gây nghiện, gây hưng phấn, ức chế tâm thần chỉ được dùng để chữa bệnh và nghiên cứu khoa học.

2- Bộ y tế quy định chế độ sản xuất, lưu thông, bảo quản, sử dụng, tồn trữ cá loại thuốc và các chất quy định tại khoản 1 của Điều này.

Điều 40. Chất lượng thuốc.

1- Thuốc đưa vào lưu thông và sử dụng phải bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng Nhà nước và an toàn cho người dùng.

2- Nghiêm cấm việc sản xuất, lưu thông thuốc giả, thuốc không bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng Nhà nước.

7. Chương VII

BẢO VỆ SỨC KHOẺ NGƯỜI CAO TUỔI, THƯƠNG BINH, BỆNH BINH, NGƯỜI TÀN TẬT VÀ ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

Điều 41. Bảo vệ sức khoẻ người cao tuổi, thương binh, bệnh binh và người tàn tật.

1- Người cao tuổi, thương binh, bệnh binh và người tàn tật được ưu tiên trong khám bệnh, chữa bệnh, được tạo điều kiện thuận lợi để đóng góp cho xã hội phù hợp với sức khoẻ của mình.

2- Bộ y tế, Tổng cục thể dục thể thao hướng dẫn phương pháp rèn luyện thân thể, nghỉ ngơi và giải trí để phòng, chống các bệnh người già.

Điều 42. Bảo vệ sức khoẻ đồng bào các dân tộc thiểu số.

1- Nhà nước dành ngân sách thích đáng để củng cố mở rộng mạng lưới y tế khám bệnh, chữa bệnh cho đồng bào các dân tộc thiểu số, đặc biệt là y tế cơ sở ở vùng cao, vùng xã xôi hẻo lánh.

2- Nhà nước có chế độ đãi ngộ thích đáng đối với cán bộ y tế công tác tại các vùng cao, vùng xa xôi hẻo lánh.

3- Hội đồng bộ trưởng có trách nhiệm bảo đảm đủ thuốc phòng và chữa bệnh sốt rét, bướu cổ cho các vùng quy định tại khoản 1 của Điều này.

4- Uỷ ban nhân dân các cấp, các ngành có liên quan và các tổ chức xã hội có trách nhiệm tuyên truyền giáo dục vệ sinh, xây dựng nếp sống văn minh, văn hoá mới cho đồng bào các dân tộc thiểu số.

Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân sửa đổi bổ sung mới nhất 2019

8. Chương VIII

THỰC HIỆN KẾ HOẠCH HOÁ GIA ĐÌNH VÀ BẢO VỆ SỨC KHOẺ PHỤ NỮ, TRẺ EM

Điều 43. Thực hiện kế hoạch hoá gia đình.

1- Mọi người có trách nhiệm thực hiện kế hoạch hoá gia đình, có quyền lựa chọn biện pháp sinh đẻ có kế hoạch theo nguyện vọng. Mỗi cặp vợ chống chỉ nên có từ một đến hai con.

2- Nhà nước có chính sách, biện pháp khuyến khích và tạo điều kiện cần thiết cho mọi người thực hiện kế hoạch hoá gia đình. Các cơ sở chuyên khoa phụ sản của Nhà nước, tập thể và tư nhân phải thực hiện yêu cầu của mọi người về việc lựa chọn biện pháp sinh đẻ có kế hoạch theo nguyện vọng.

3- Các cơ quan y tế, văn hoá, giáo dục, thông tin đại chúng và các tổ chức xã hội có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục kiến thức về dân số và kế hoạch hoá gia đình cho nhân dân.

4- Nghiêm cấm hành vi gây trở ngại hoặc cưỡng bức trong việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình.

Điều 44. Quyền của phụ nữ được khám bệnh, chữa bệnh phụ khoa và nạo thai, phá thai.

1- Phụ nữ được quyền nạo thai, phá thai theo nguyện vọng, được khám bệnh, chữa bệnh phụ khoa, được theo dõi sức khoẻ trong thời kỳ thai nghén, được phục vụ y tế khi sinh con tại các cơ sở y tế.

2- Bộ y tế có trách nhiệm củng cố, phát triển mạng lưới chuyên khoa phụ sản và sơ sinh đến tận cơ sở để bảo đảm phục vụ y tế cho phụ nữ.

3- Nghiêm cấm các cơ sở y tế và cá nhân làm các thủ thuật nạo thai, phá thai, tháo vòng tránh thai nếu không có giấy phép do Bộ y tế hoặc Sở y tế cấp.

Điều 45. Sử dụng lao động nữ.

1- Các tổ chức và cá nhân sử dụng lao động nữ phải thực hiện các quy định về bảo vệ sức khoẻ cho phụ nữ, bảo đảm chế độ đối với phụ nữ có thai, sinh con, nuôi con và áp dụng các biện pháp sinh đẻ có kế hoạch.

2- Không được sử dụng lao động nữ vào những công việc nặng nhọc, độc hại. Bộ y tế, Bộ lao động – thương binh và xã hội quy định danh mục các công việc nặng nhọc, độc hại.

Điều 46. Bảo vệ sức khoẻ trẻ em.

1- Trẻ em được y tế cơ sở quản lý sức khoẻ, được tiêm chủng phòng bệnh, phòng dịch, được khám bệnh, chữa bệnh.

2- Ngành y tế có trách nhiệm phát triển, củng cố mạng lưới chăm sóc bảo vệ sức khoẻ trẻ em.

3- Cha mẹ, người nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm thực hiện những quy định về kiểm tra sức khoẻ và tiêm chủng theo kế hoạch của y tế cơ sở, chăm lo trẻ em khi đau ốm và thực hiện các quyết định của người thầy thuốc trong khám bệnh, chữa bệnh đối với trẻ em.

Điều 47. Chăm sóc trẻ em có khuyết tật.

Bộ y tế, Bộ lao động – thương binh và xã hội, Bộ giáo dục có trách nhiệm tổ chức chăm sóc và áp dụng các biện pháp phục hồi chức năng cho trẻ em có khuyết tật.

9. Chương IX

THANH TRA NHÀ NƯỚC VỀ Y TẾ

Điều 48. Tổ chức và quyền hạn của thanh tra Nhà nước về y tế.

1- Thanh tra Nhà nước về y tế thuộc ngành y tế bao gồm: Thanh tra vệ sinh, thanh tra khám bệnh, chữa bệnh và thanh tra dược.

Hội đồng bộ trưởng quy định tổ chức thanh tra Nhà nước về y tế.

2- Thanh tra Nhà nước về y tế có quyền thanh tra, kiểm tra việc thực hiện những quy định của pháp luật về bảo vệ sức khoẻ nhân dân, về vệ sinh, phòng, chống dịch, khám bệnh, chữa bệnh và dược; quyết định các hình thức xử phạt hành chính; ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ hoạt động của những đơn vị, cá nhân vi phạm và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

3- Các tổ chức Nhà nước, tổ chức xã hội, tập thể, tư nhân và mọi công dân nơi đang tiến hành thanh tra phải báo cáo tình hình, cung cấp tài liệu bằng văn bản những sự việc có liên quan đến nội dung thanh tra theo đúng thời hạn quy định và cử cán bộ tham gia đoàn thanh tra khi cần thiết.

Điều 49. Thanh tra vệ sinh.

Thanh tra vệ sinh thanh tra việc chấp hành pháp luật về vệ sinh của các tổ chức Nhà nước, tổ chức xã hội, tập thể, tư nhân và mọi công dân.

Điều 50. Thanh tra khám bệnh, chữa bệnh.

Thanh tra khám bệnh và chữa bệnh thanh tra việc chấp hành những quy định chuyên môn, nghiệp vụ và điều lệ kỹ thuật y tế của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Nhà nước, tập thể và tư nhân.

Điều 51. Thanh tra dược.

Thanh tra dược thanh tra việc chấp hành những quy định chuyên môn, nghiệp vụ dược trong sản xuất, lưu thông, xuất khẩu, nhập khẩu thuốc và nguyên liệu làm thuốc của các cơ sở Nhà nước, tập thể, tư nhân.

10. Chương X

KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ CÁC VI PHẠM

Điều 52. Khen thưởng.

Địa phương, đơn vị, cá nhân có thành tích trong công tác bảo vệ sức khoẻ nhân dân được Nhà nước khen thưởng vật chất và tinh thần.

Thầy thuốc, lương y, dược sĩ và nhân viên y tế khác có nhiều cống hiến trong sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ nhân dân, có trình độ nghiệp vụ, chuyên môn kỹ thuật giỏi, có đạo đức, được nhân dân và đồng nghiệp tín nhiệm thì được xét tặng danh hiệu cao quý của Nhà nước.

Điều 53. Xử lý các vi phạm

Người nào có những hành vi sau đây thì tuỳ theo mức độ nhẹ hoặc nặng sẽ bị xứ lý kỷ luật, bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

1- Vi phạm các quy định về giữ gìn vệ sinh nơi công cộng, phòng và chống dịch, bệnh.

2- Vi phạm các quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất thuốc và bán thuốc.

3- Vi phạm các quy định về vệ sinh lương thực, thực phẩm, vệ sinh lao động và các quy định khác của Luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân.

Ngoài những hình thức xử lý nói trên, người nào có hành vi vi phạm quy định tại các điểm 1, 2, 3 của Điều này nếu gây thiệt hại đến sức khoẻ, tính mạng, tài sản của người khác thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

11. Chương XI

ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG

Điều 54. Những quy định trước đây trái với Luật này đều bãi bỏ.

Điều 55. Hội đồng bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Luật này.

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 30 tháng 6 năm 20…

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

Nguyễn Thị Kim Ngân

Quy định chung cơ bản của Luật về bảo vệ sức khỏe nhân dân mới nhất vừa được trình bày chi tiết trên đây là thực sự cần thiết, là đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi công dân Việt Nam. Nội dung sửa đổi Luật bảo vệ sức khỏe Nhân dân như trên đã kịp thời đưa ra những điểm tiến bộ hơn trước nên nhận được nhiều đóng góp đồng tình từ đại biểu Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp nên người dân có thể hoàn toàn yên tâm về chính sách đặc biệt này của Nhà nước. Nhà nước Việt Nam luôn hoạt động theo tôn chỉ là “Nhà nước của dân, do dân và vì dân” nên đây sẽ là bước ngoặc mới nhằm thể hiện sự quan tâm đúng mực của Nhà nước đối với mọi tầng lớp người dân. Phapluat360.com chúc các bạn xem tin vui!

Cập nhật chi tiết Luật phổ cập giáo dục tiểu học của Quốc hội

Cập nhật chi tiết Luật phổ cập giáo dục tiểu học của Quốc hội mới nhất năm nay sẽ bàn về trách nhiệm của học sinh, nhà trường, gia đình và xã hội trong phổ cập giáo dục tiểu học; quy định về chính sách của Nhà nước về phổ cập giáo dục tiểu học; hình thức khen thưởng và xử lý vi phạm. Đây là những danh mục điều chỉnh lại mang tính cấp thiết nhất của Luật về phổ cập giáo dục tiểu học tại Việt Nam hiện nay mà Quốc hội muốn hướng tới. Phổ cập giáo dục không chỉ là nhiệm vụ, là trách nhiệm, là quyền lợi của mỗi cá nhân mà còn là trách nhiệm thuộc về cơ quan lãnh đạo Nhà nước trong việc phổ biến về chính sách giáo dục cho các tổ chức, các đơn vị trường tiểu học trên khắp các tỉnh thành cả nước. Bạn đang thắc mắc về luật này và muốn tìm hiểu về một số điểm mới tiến bộ do Quốc hội ban hành, mời tham khảo qua nội dung bài viết sau.

Nào hãy cùng phapluat360.com chúng tôi cập nhật mới nhất Luật phổ cập giáo dục tiểu học 2019 ngay bây giờ nhé!

Cập nhật chi tiết sửa đổi Luật phổ cập giáo dục tiểu học của Quốc hội mới nhất

QUỐC HỘI
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********

Số: 56-LCT/HĐNN8

Hà Nội, ngày 12 tháng 8 năm 20…

 LUẬT

PHỔ CẬP GIÁO DỤC TIỂU HỌC CỦA QUỐC HỘI SỐ 56-LCT/HĐNN8 NGÀY 12/08/20…

Giáo dục tiểu học là điều kiện cơ bản để nâng cao dân trí, là cơ sở ban đầu hết sức quan trọng cho việc đào tạo trẻ em trở thành công dân tốt của đất nước;

Căn cứ vào các điều 40, 41, 60 và 83 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Luật này quy định chế độ phổ cập giáo dục tiểu học.

1. Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1

Nhà nước thực hiện chính sách phổ cấp giáo dục tiểu học bắt buộc từ lớp 1 đến hết lớp 5 đối với tất cả trẻ em Việt Nam trong độ tuổi từ 6 đến 14 tuổi.

Điều 2

Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm, đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và thể chất của trẻ em, nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Điều 3

Giáo dục tiểu học phải bảo đảm cho học sinh nắm vững các kỹ năng nói, đọc, viết, tính toán, có những hiểu biết cần thiết về thiên nhiên, xã hội và con người; có lòng nhân ái, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, yêu quý anh chị em; kính trọng thầy giáo, cô giáo, lễ phép với người lớn tuổi; giúp đỡ bạn bè, các em nhỏ; yêu lao động, có kỷ luật; có nếp sống văn hoá; có thói quen rèn luyện thân thể và giữ gìn vệ sinh; yêu quê hương đất nước, yêu hoà bình.

Điều 4

Giáo dục tiểu học được thực hiện bằng tiếng Việt.

Các dân tộc thiểu số có quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình cùng với tiếng Việt để thực hiện giáo dục tiểu học.

Điều 5

Nhà nước dành ngân sách thích đáng để thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học.

Nhà nước có chính sách động viên các nguồn tài chính khác trong xã hội, lập Quỹ giáo dục quốc gia, nhằm hỗ trợ kinh phí cho sự nghiệp phổ cập giáo dục tiểu học.

Điều 6

Nhà nước bảo đảm các điều kiện cần thiết để thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học ở vùng dân tộc thiểu số, vùng cao, vùng xa xôi hẻo lánh, vùng hải đảo và vùng có khó khăn; bảo đảm từ ban đầu các điều kiện cần thiết để thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học khi xây dựng khu dân cư mới.

Điều 7

Cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, gia đình, công dân có trách nhiệm tham gia vào việc thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học.

Nhà nước coi trọng và hoan nghênh mọi sự đóng góp, giúp đỡ, hợp tác của các tổ chức quốc tế, chính phủ các nước, các tổ chức phi chính phủ, người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào sự nghiệp phổ cập giáo dục tiểu học của Việt Nam.

Cập nhật chi tiết Luật phổ cập giáo dục tiểu học của Quốc hội

2. Chương II

HỌC SINH, NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH, XÃ HỘI TRONG PHỔ CẬP GIÁO DỤC TIỂU HỌC

Điều 8

1- Trẻ em 6 tuổi phải được học lớp 1 ngay từ đầu năm học.

2- Trẻ em vì lý do sức khoẻ, vì hoàn cảnh gia đình có khó khăn đặc biệt hoặc ở những vùng quy định tại Điều 6 của Luật này, có thể bắt đầu học lớp 1 sau 6 tuổi.

3- Trẻ em có khả năng phát triển đặc biệt thì được học lớp 1 trước 6 tuổi hoặc học vượt lớp khi cơ quan quản lý giáo dục có thẩm quyền cho phép.

Điều 9

Học sinh phải được học tập và rèn luyện theo chương trình, nội dung giáo dục tiểu học do Nhà nước quy định; được tham gia các hoạt động của Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh.

Học sinh có thành tích trong học tập, rèn luyện được khen thưởng.

Điều 10

Học sinh phải đạt trình độ giáo dục tiểu học trước tuổi 15, trừ những trường hợp được quy định tại khoản 2, Điều 8 của Luật này.

Học sinh đạt trình độ giáo dục tiểu học được cấp bằng tốt nghiệp.

Điều 11

Trẻ em là con liệt sĩ, thương binh nặng, trẻ em tàn tật, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em có khó khăn đặc biệt, được Nhà nước và xã hội quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện cần thiết để đạt trình độ giáo dục tiểu học.

Điều 12

Trẻ em là công dân Việt Nam trong thời gian sinh sống ở nước ngoài phải được cha mẹ, người đỡ đầu tạo điều kiện cần thiết và được Nhà nước giúp đỡ để thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học theo Luật này.

Trẻ em là người nước ngoài ở Việt Nam có nguyện vọng theo học tiểu học ở nhà trường Việt Nam được Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam giúp đỡ.

Điều 13

Giáo dục tiểu học được thực hiện trong các trường, lớp tiểu học quốc lập, các loại hình trường, lớp dân lập.

Học sinh học tại trường, lớp tiểu học quốc lập không phải trả học phí.

Việc thành lập, giải thể các trường, lớp tiểu học phải tuân theo quy định của pháp luật.

Điều 14

Trường, lớp tiểu học phải có đủ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, nhân viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập theo quy định của Nhà nước.

Điều 15

Cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên tiểu học phải được tuyển chọn, đào tạo theo tiêu chuẩn đạo đức, tác phong, chuyên môn, nghiệp vụ do Nhà nước quy định.

Cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm giảng dạy, giáo dục và quản lý trường, lớp, gương mẫu trong hoạt động ở nhà trường, trong đời sống xã hội. Nghiêm cấm những hành vi xâm phạm thân thể và danh dự của học sinh.

Điều 16

Lao động giảng dạy, giáo dục của giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục tiểu học được Nhà nước và xã hội tôn trọng.

Nghiêm cấm những hành vi xâm phạm thân thể và danh dự của giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục.

Điều 17

Nhà nước thực hiện các chính sách nhằm:

1- Xây dựng, củng cố các trường sư phạm, trường cán bộ quản lý giáo dục; nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục tiểu học;

2- Bảo đảm những điều kiện vật chất, tinh thần cho giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục tiểu học làm tròn chức trách của mình; khuyến khích giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục công tác lâu dài cho sự nghiệp giáo dục tiểu học;

3- Ưu đãi giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục tiểu học công tác ở vùng dân tộc thiểu số, vùng cao, vùng xa xôi hẻo lánh, vùng hải đảo và vùng có khó khăn.

Điều 18

Cha mẹ, người đỡ đầu của trẻ em có trách nhiệm:

1- Ghi tên cho con hoặc trẻ em được đỡ đầu đi học tại trường, lớp tiểu học trên địa bàn cư trú hoặc nơi thuận tiện nhất, theo quy định tại Điều 8 của Luật này;

2- Tạo điều kiện để con hoặc trẻ em được đỡ đầu hoàn thành giáo dục tiểu học;

3- Kết hợp với nhà trường, tổ chức xã hội trong việc giáo dục con hoặc trẻ em được đỡ đầu; tôn trọng giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục tiểu học; gương mẫu trong đời sống gia đình và xã hội, thực hiện giáo dục gia đình theo những truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Cập nhật chi tiết Luật phổ cập giáo dục tiểu học của Quốc hội

Điều 19

Cha mẹ, người đỡ đầu của học sinh có quyền:

1- Yêu cầu nhà trường, cơ quan quản lý giáo dục giải quyết những vấn đề có liên quan đến việc giáo dục tiểu học của con hoặc trẻ em được đỡ đầu;

2- Tham gia tổ chức của cha mẹ học sinh nhằm kết hợp với nhà trường thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học.

Điều 20

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức kinh tế, xã hội có trách nhiệm:

1- Vận động cha mẹ, người đỡ đầu bảo đảm cho trẻ em hoàn thành giáo dục tiểu học;

2- Phối hợp với các cơ quan giáo dục, chính quyền địa phương và gia đình trong việc giáo dục trẻ em;

3- Vận động giúp đỡ về tài chính, cơ sở vật chất và nhân lực theo khả năng của mình nhằm thực hiện phố cập giáo dục tiểu học.

3. Chương III

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHỔ CẬP GIÁO DỤC TIỂU HỌC

Điều 21.

Hội đồng bộ trưởng có trách nhiệm:

1- Ban hành các chính sách nhằm bảo đảm thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học trong phạm vi cả nước, quyết định các chương trình – mục tiêu, thời hạn phổ cập giáo dục tiểu học cho các vùng, các địa phương;

2- Phân bổ ngân sách cần thiết dành cho giáo dục tiểu học;

3- Chỉ đạo các ngành, các cấp trong việc thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học;

4- Thực hiện việc hợp tác với các tổ chức quốc tế, các quốc gia trong sự nghiệp phổ cập giáo dục tiểu học.

Điều 22

Bộ Giáo dục và đào tạo có trách nhiệm:

1- Quyết định các đề án, chương trình, kế hoạch triển khai việc phổ cập giáo dục tiểu học, ban hành các văn bản pháp quy thuộc thẩm quyền;

2- Quy định mục tiêu và kế hoạch đào tạo của trường tiểu học, nội dung giáo dục tiểu học, quản lý việc biên soạn, phát hành sách giáo khoa, sách tham khảo, sách hướng dẫn và các tài liệu cần thiết khác về giáo dục tiểu học cho giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh và xã hội;

3- Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục tiểu học;

4- Hướng dẫn các cấp chính quyền; chỉ đạo các cơ quan quản lý giáo dục về chuyên môn, nghiệp vụ trong việc thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học;

5- Phối hợp với các ngành, các cấp, các tổ chức xã hội trong việc thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học;

6- Thực hiện thanh tra giáo dục tiểu học.

Điều 23

Chính quyền địa phương các cấp có trách nhiệm:

1- Thực hiện chương trình – mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học do Hội đồng bộ trưởng quy định đối với địa phương;

2- Thực hiện quy hoạch, kế hoạch và ngân sách giáo dục tiểu học trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương;

3- Thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng hợp lý giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục tiểu học, các chính sách, chế độ, các biện pháp nhằm bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần cho giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục tiểu học;

4- Động viên sự đóng góp về tài chính, cơ sở vật chất, nhân lực của địa phương nhằm tạo thêm điều kiện để thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học;

5- Tổ chức việc mở trường, lớp tiểu học; bảo đảm trường, lớp, thiết bị đồ dùng dạy học, sách, vở, học cụ đủ và đúng thời điểm cần thiết;

Chính quyền xã, phường, thị trần chỉ đạo việc tổ chức đăng ký và huy động trẻ em vào học lớp 1, tổ chức và quản lý để trẻ em hoàn thành giáo dục tiểu học;

6- Cơ quan quản lý giáo dục các cấp có trách nhiệm giúp chính quyền địa phương thực hiện các quy định tại Điều này.

Điều 24

Nội dung thanh tra giáo dục tiểu học bao gồm:

1- Thanh tra việc thực hiện chương trình – mục tiêu, kế hoạch phổ cập giáo dục tiểu học của các địa phương, trường, lớp tiểu học;

2- Thanh tra việc giảng dạy, giáo dục của giáo viên, việc học tập của học sinh tiểu học;

3- Quyết định hoặc kiến nghị các biện pháp xử lý kịp thời để thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học.

Tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục tiểu học do Hội đồng bộ trưởng quy định.

4. Chương IV

KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 25

Cá nhân, tổ chức có thành tích đóng góp vào sự nghiệp phổ cập giáo dục tiểu học được khen thưởng theo chế độ chung của Nhà nước.

Điều 26

Người gây khó khăn, cản trở việc phổ cập giáo dục tiểu học; cho phép hoặc mở trường, lớp trái pháp luật; giáo dục trái với nội dung chương trình do Nhà nước quy định; xâm phạm thân thể và danh dự của học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục; xâm phạm cơ sở vật chất của trường, lớp; vì thiếu tinh thân trách nhiệm mà không hoàn thành chương trình – mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học, lạm dụng quyền hạn sử dụng trái phép kinh phí dành cho giáo dục tiểu học hoặc vi phạm các quy định khác của Luật này, thì tuỳ mức độ mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Cập nhật chi tiết Luật phổ cập giáo dục tiểu học của Quốc hội

5. Chương V

ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG

Điều 27

Những quy định trước đây trái Luật này đều bãi bỏ.

Điều 28

Hội đồng bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Luật này.

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 9, thông qua ngày 12 tháng 8 năm 20…

CHỦ TÍCH QUỐC HỘI

Nguyễn Thị Kim Ngân

Bạn vừa cùng chúng tôi tìm hiểu Luật về phổ cập giáo dục tiểu học của Quốc hội, mong rằng dựa vào từng điều khoản điều luật như trên, mỗi đơn vị tổ chức giáo dục sẽ sớm đưa ra những kế hoạch chiến lược lâu dài nhằm nâng cao và bồi dưỡng bền vững về kiến thức cho các em học sinh trong độ tuổi tiểu học. Luật phổ cập giáo dục tiểu học qua từng năm, từng kì họp sẽ có thêm một vài chỉnh sửa quan trọng nhằm hoàn thiện Luật từng ngày, đồng thời cũng là đáp ứng đúng nguyện vọng không chỉ của từng cá nhân mà còn là của gia đình và xã hội. Hi vọng, sau khi Luật phổ cập về giáo dục được thi hành sẽ nhận nhiều hưởng ứng từ tất cả mọi người, giúp nuôi dưỡng và ươm mầm thế hệ trẻ tiềm năng cho tương lai. Phapluat360.com chúc các bạn xem tin vui!